|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2024/HS-ST Ngày 11-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Minh Hiệp và ông Trần Xuân Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST-HS ngày 14/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024 đối với:
Bị cáo: Giàng A L, sinh ngày: 01/01/1956 tại huyện T, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Bản Ông L1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Giàng A C và bà Thào Thị D (đều đã chết); bị cáo có vợ là Mùa Thị C1, có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1980, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 200 ngày 26/8/2010 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 10 phút ngày 21/3/2024 tổ công tác Công an xã C phối hợp với Đồn Biên phòng Cửa khẩu L2 làm nhiệm vụ tại bản Ông L1, xã C, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Giàng A L đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện L cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc 02 gói nilon màu hồng và xanh bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là ma tuý loại Heroine. L khai nhận đó là gói ma tuý của L cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Giàng A L, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Giàng A L bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.
Ngày 22/3/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroine đựng trong các gói nilon thu giữ của Giàng A L được 0,14 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu L1 và L2.
Tại Kết luận giám định số 738 ngày 23/3/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu SL1 và L2 là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra Giàng A L khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Ngày 21/3/2024 L đi làm nương thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 02 gói nilon bên trong đựng Heroine với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Lự cất vào trong túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng 16 giờ ngày 21/3/2014, khi L đang ở gần nhà thì bị tổ công tác đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ.
Tại phiên tòa bị cáo Giàng A L trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Giàng A L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
2
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Giàng A L từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Giàng A L, bắt ngày 21/3/2024 (mảnh nilon màu hồng + nilon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Giàng A L.
3. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng Cửa khẩu L2, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Giàng A L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã C, huyện M thu giữ của bị cáo vào ngày 21/3/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông với giá 50.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
3
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã C, huyện M lập vào hồi 16 giờ 15 phút ngày 21/3/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 738 ngày 23/3/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 và L2 là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất” Heroin nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 09 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Giàng A L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 21/3/2024 bị cáo Giàng A L đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,14 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Giàng A L không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
4
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo đã có 01 tiền án Tại bản án số 200 ngày 26/8/2010 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã được xoá án tích), nhưng sau khi chấp hành án trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện dẫn đến có hành vi phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Giàng A L, bắt ngày 21/3/2024 (mảnh nilon màu hồng + nilon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Giàng A L, xét thấy là vật không có giá trị sử dụng. Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Giàng A L tại xã C, huyện M. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
5
[6] Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A L có yêu cầu được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy Giàng A L là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Giàng A L 27 (Hai mươi bảy) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 22/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Giàng A L, bắt ngày 21/3/2024 (mảnh nilon màu hồng + nilon màu xanh và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Giàng A L.
3. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Giàng A L.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11/7/2024).
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lương Long Bình |
7
Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 156/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giàng A L tàng trữ trái phép chất mam túy
