|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 156/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-5-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Võ Duy Bảo |
| Ông Mai Xuân Thường |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1989;
- Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Thôn P, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình;
- Địa chỉ cư trú hiện nay: #825 tòa nhà F thứ 8 nút giao Reliance cor pines thành phố M - nước Philippines; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Chị Phan Thị N, sinh năm 1990;
- Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An;
- Địa chỉ cư trú hiện nay: Chung cư A six senses, khu đô thị D macapagal blvd. Barangay 76 thành phố P - nước Philippines; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959;
- Địa chỉ cư trú: Xóm Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có xác nhận của Đ tại Philippines), nguyên đơn anh Nguyên Thanh B trình bày:
Ngày 30 tháng 10 năm 2018, anh và chị Phan Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2019, do kinh tế khó khăn nên vợ chồng đi xuất khẩu lao động sang nước Philippines. Thời gian ở nước Philippines thì vợ chồng chung sống cùng nhau. Đến năm 2021, chị N mang bầu nên về Việt Nam sinh con. Đến tháng 9/2022, chị N đã gửi con cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T và tiếp tục sang Philippines làm ăn từ đó đến nay chưa về Việt Nam. Khi chị N quay lại Philippines thì tình cảm vợ chồng vẫn bình thường. Đến giữa năm 2023, do việc làm ăn không thuận lợi và vợ chồng luôn nghi ngờ, không tin tưởng nhau nên phát sinh mâu thuẫn. Đến cuối năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể gắn kết với nhau được. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm không còn và cuộc sống hôn nhân không thể tiếp diễn. Vì vậy, anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị N.
Về con chung: Anh và chị Phan Thị N có 01 con chung là Nguyễn Bình Uyên N1, sinh ngày 03/07/2021. Hiện con chung đang được bà Nguyễn Thị T (mẹ của chị N) chăm sóc, nuôi dưỡng. Để thuận tiện cho sự phát triển của con, anh thống nhất giao con chung cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Thanh B hiện đang cư trú và làm việc tại nước Philippines, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; nơi làm việc: Văn phòng L, số B đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt.
Theo bản tự khai, đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có xác nhận của Đ tại Philippines), bị đơn chị Phan Thị N trình bày:
Ngày 30 tháng 10 năm 2018, chị và anh Nguyễn Thanh B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2019, do kinh tế khó khăn nên vợ chồng đi xuất khẩu lao động sang nước Philippines. Đến năm 2021, chị mang bầu nên đã về Việt Nam sinh con. Đến tháng 9/2022, chị đã gửi con cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng và chị lại tiếp tục sang Philippines làm ăn từ đó đến nay chưa về Việt Nam. Lúc mới quay lại P thì vợ chồng cùng nhau làm ăn để nuôi con. Nhưng đến giữa năm 2023, anh B không chịu làm ăn mà thường xuyên chơi bời, rượu chè và không chung thủy. Mặc dù, chị đã khuyên anh B nhiều lần nhưng không còn quan tâm đến kết quả. Đến cuối năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn với nhau được. Vợ chồng không còn yêu thương nhau, anh B không còn quan tâm, chăm sóc đến gia đình. Nay anh B làm đơn xin ly hôn thì chị cũng đồng ý.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thanh B có 01 con chung là Nguyễn Bình Uyên N1, sinh ngày 03/07/2021. Nếu ly hôn, chị và anh B thỏa thuận giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị đang ở nước ngoài nên chị nhờ mẹ là bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi chị về Việt Nam. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phan Thị N đang cư trú và làm việc tại nước Philippines, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho mẹ là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; địa chỉ cư trú: Xóm Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị.
Theo đơn của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:
Chị Phan Thị N là con gái của bà, kết hôn với anh Nguyễn Thanh B vào năm 2018, tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2019, anh B và chị N đi xuất khẩu lao động sang nước Philippines. Năm 2021, chị N mang bầu nên đã về Việt Nam ở tại nhà bà và sinh con. Đến tháng 9/2022, chị N tiếp tục đi làm ăn ở nước Philippines và đã gửi cháu Nguyễn Bình Uyên N1, sinh ngày 03/07/2021 cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng từ đó đến nay. Nay anh B và chị N ly hôn và thỏa thuận chị N là người trực tiếp nuôi con. Do chị N đang ở nước ngoài nên nhờ bà chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 thì bà đồng ý. Đồng thời, bà cũng không yêu cầu anh B và chị N phải trả công chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Vì bà còn việc và phải chăm sóc cháu N1 nên bà đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Thanh B hiện đang cư trú tại nước Philippines đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị N hiện cũng đang cư trú tại nước Philippines; trước xuất cảnh, anh B và chị N đều có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Nguyễn Thành B1 và chị Phan Thị N không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài; về phía anh B1 có đơn đề nghị không tiến hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh B và bị đơn chị Phan Thị N hiện đang cư trú tại nước Philippines, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh B ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; nơi làm việc: Văn phòng L, số B đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu (có xác nhận của Đ tại Philippines) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và anh đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Phan Thị N ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959; địa chỉ cư trú: Xóm Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu (có xác nhận của Đ tại Philippines) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn trình bày ý kiến cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh B và chị Phan Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 30 tháng 10 năm 2018, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019, do kinh tế khó khăn nên vợ chồng đi xuất khẩu lao động sang nước Philippines. Thời gian ở nước Philippines thì vợ chồng chung sống cùng nhau. Đến năm 2021, chị N mang bầu nên về Việt Nam sinh con. Đến tháng 9/2022, chị N đã gửi con cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T và tiếp tục sang Philippines làm ăn từ đó đến nay chưa về Việt Nam. Khi chị N quay lại Philippines thì tình cảm vợ chồng vẫn bình thường. Đến giữa năm 2023, do việc làm ăn không thuận lợi và vợ chồng luôn nghi ngờ, không tin tưởng nhau nên phát sinh mâu thuẫn. Đến cuối năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn với nhau được. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm không còn và cuộc hôn nhân không thể tiếp diễn. Do đó, anh B nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị N. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Thành B1 và chị Phan Thị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Thành B1 yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Anh Nguyễn Thanh B và chị Phan Thị N có 01 con chung. Nay ly hôn, anh B và chị N thỏa thuận: Chị Phan Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Bình Uyên N1, sinh ngày 03/7/2021 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị N đang ở nước ngoài nên bà Nguyễn Thị T (mẹ của chị N) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Bình Uyên N1 cho đến khi chị N về Việt Nam với cháu N1.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Phan Thị N và bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Thành B1 và chị Phan Thị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Thanh B.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh B và chị Phan Thị N được ly hôn.
- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
- Anh Nguyễn Thanh B và chị Phan Thị N có 01 con chung;
- Giao cho chị Phan Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Bình Uyên N1, sinh ngày 03/07/2021 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị N đang ở nước ngoài nên bà Nguyễn Thị T (mẹ của chị N) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Bình Uyên N1 cho đến khi chị N về Việt Nam với cháu N1.
- Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Phan Thị N và bà Nguyễn Thị T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Thanh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Thanh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh B đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012718 ngày 11/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Thanh B đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh B và chị Phan Thị N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 156/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 156/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa B và N
