|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 156/2024/DS-ST Ngày: 07-5-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng cầm cố; hợp đồng mượn tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Thật và bà Đặng Thị Mỹ Hường
Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 599/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố; hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 197/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S Có Ngay. Địa chỉ trụ sở: Số A, đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT - Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Minh X (Theo giấy ủy quyền số 261/2023/UQ-SVN ngày 25/10/2023).
Người được ủy quyền lại: Bà Trần Thị Cẩm H, sinh năm 2000. (Theo giấy ủy quyền số 1402/01/2023/UQ-SVN ngày 01/5/2024).
Địa chỉ liên hệ: Số A, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0834.697.xxx (có mặt)
2. Bị đơn: Bà Bùi Thị Mỹ H1, sinh năm 1972
Địa chỉ: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Điện thoại: 0385.114.xxx. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/09/2022 bà Bùi Thị Mỹ H1 và Công ty Cổ phần S – Chi nhánh C thỏa thuận ký hợp đồng cầm cố. Nội dung hợp đồng bà H1 cầm cố cho công ty A (một) xe mô tô hai bánh (nhãn hiệu HONDA, loại WAVE 100CC, biển số: 67B1-381.14, số khung: RLHHC1219DY039201, số máy: HC12E5039225, giấy chứng nhận đăng ký số: 132348 do Công an Tỉnh A cấp ngày 22/04/2020 mang tên bà Bùi Thị Mỹ H2); thời gian cầm cố 12 tháng (14/09/2022 đến 14/09/2023); phí quản lý hồ sơ 0,5%. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại TP Hồ Chí Minh – Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm vào ngày 14/09/2022.
Số tiền công ty giải ngân cho bà H1 khi bà H1 cầm cố tài sản là 5.500.000 đồng, lãi suất trong hạn cố định 1,1%/tháng trên số dư nợ thực tế, tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền, số tiền lãi là 622.886 đồng/tháng; thời gian thanh toán lãi vào ngày 14 hàng tháng, từ tháng 09/2022 đến tháng 09/2023. Lãi suất quá hạn 150% của lãi suất trong hạn. Bà H1 nhận tiền từ hợp đồng cầm cố tài sản và thanh toán được số tiền 4.032.000 đồng (gốc 2.762.562 đồng, lãi 292.307 đồng, phí 977.131 đồng), sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả vốn lãi và phí theo thỏa thuận khi thời hạn của hợp đồng đã hết.
Cùng ngày 14/09/2022 bà Bùi Thị Mỹ H1 và Công ty Cổ phần S – Chi nhánh C thỏa thuận ký hợp đồng mượn tài sản là xe mô tô đã cầm cố nêu trên. Nội dung hợp đồng, Công ty S cho bà H1 mượn xe; thời hạn mượn 30 ngày (14/09/2022 đến 28/04/2023); phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn là 115.000 đồng. Bà H1 nhận xem từ hợp đồng mượn tài sản, nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả xe khi hết thời hạn của hợp đồng, không thanh toán phí bảo dưỡng và hao mòn. Công ty không yêu cầu nhận lại xe, nhưng yêu cầu thanh toán phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe theo thỏa thuận của hợp đồng mượn.
Công ty S khởi kiện yêu cầu:
Buộc bà Bùi Thị Mỹ H1 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền tính đến ngày 07/5/2024 là 5.178.407 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 2.737.438 đồng; tiền lãi trong hạn là 421.565 đồng, tiền lãi quá hạn là 210.783 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn xe là 1.617.000 đồng; phí quản lý hồ sơ 0,5% là 191.621 đồng.
Trường hợp bà Bùi Thị Mỹ H1 không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì tài sản cầm cố là 01 (một) xe mô tô hai bánh (nhãn hiệu HONDA, loại WAVE 100CC, biển số: 67B1-381.14, số khung: RLHHC1219DY039201, số máy: HC12E5039225, giấy chứng nhận đăng ký số: 132348 do Công an Tỉnh A cấp ngày 22/04/2020 mang tên bà Bùi Thị Mỹ H1 được xử lý theo quy định pháp luật để đảm bảo thi hành án.
Bị đơn bà Bùi Thị Mỹ H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án phù hợp quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 275, Điều 280, Điều 309, khoản 3 Điều 314, Điều 499, Điều 357, Điều 494 Bộ luật Dân sự, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn bà Bùi Thị Mỹ H1 tranh chấp hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản, đây là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn xác lập hợp đồng và có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Công ty S đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của bà H1 theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng cầm cố, hợp đồng mượn tài sản được coi là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bà H1 theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ kết quả xác minh của công an phường B xác nhận bà H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang nên Hội đồng tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[1.3] Bị đơn bà Bùi Thị Mỹ H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Hợp đồng cầm cố số LXM220901011NA13X và giấy mượn xe ngày 14/09/2022 là sự tự nguyện thỏa thuận giao kết giữa các bên có đầy đủ các năng lực hành vi pháp luật dân sự, không trái quy định pháp luật dân sự, đạo đức xã hội. Phù hợp với khoản 1 Điều 275, Điều 309, khoản 3 Điều 314, Điều 494 Bộ luật Dân sự. Quá trình thực hiện hợp đồng bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên công ty khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị Mỹ H1 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền tính đến ngày 07/5/2024 là 5.178.407 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 2.737.438 đồng; tiền lãi trong hạn là 421.565 đồng, tiền lãi quá hạn là 210.783 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn xe là 1.617.000 đồng; phí quản lý hồ sơ 0,5% là 191.621 đồng. Yêu cầu này là có căn cứ theo quy định tại các Điều 280, Điều 357, Điều 499 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận
[2.2] Hợp đồng cầm cố số LXM220901011NA13X ngày 14/09/2022 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại TP Hồ Chí Minh – Cục Đ bảo đảm ngày 22/02/2023. Trường hợp bà H1 không thanh toán số tiền trên, Công ty S yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng cầm cố là 01 (một) xe mô tô hai bánh (nhãn hiệu HONDA, loại WAVE 100CC, biển số: 67B1-381.14, số khung: RLHHC1219DY039201, số máy: HC12E5039225, giấy chứng nhận đăng ký số: 132348 do Công an tỉnh A cấp ngày 22/04/2020 mang tên bà Bùi Thị Mỹ H1). Yêu cầu này phù hợp Điều 299, Điều 303 Bộ luật Dân sự nên được xem xét chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty CP S Có Ngay được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà H1 có trách nhiệm nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Khoản 1 Điều 275, Điều 280, Điều 299, Điều 303, Điều 309, khoản 3 Điều 314, Điều 499, Điều 357, Điều 494 Bộ luật dân sự;
- - Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S Có Ngay.
Buộc bà Bùi Thị Mỹ H1 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần S Có Ngay số tiền lãi tính đến ngày 07/5/2024 là 5.178.407 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 2.737.438 đồng; tiền lãi trong hạn là 421.565 đồng, tiền lãi quá hạn là 210.000 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn xe là 1.617.000 đồng; phí quản lý hồ sơ 0,5% là 191.621 đồng.
Trường hợp bà Bùi Thị Mỹ H1 không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên thì tài sản cầm cố là 01 (một) xe mô tô hai bánh (nhãn hiệu HONDA, loại WAVE 100CC, biển số: 67B1-381.14, số khung: RLHHC1219DY039201, số máy: HC12E5039225, giấy chứng nhận đăng ký số: 132348 do Công an tỉnh A cấp ngày 22/04/2020 mang tên bà Bùi Thị Mỹ H1 được xử lý theo quy định pháp luật để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà H1 có trách nhiệm nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty Cổ phần S Có Ngay được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001252 ngày 14/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
[3] Về quyền kháng cáo:
Công ty Cổ phần S Có Ngay được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bà H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 156/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố; hợp đồng mượn tài sản
- Số bản án: 156/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố; hợp đồng mượn tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
