|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 159/2023/DS-ST
Ngày: 06 - 11 - 2023
V/v Tranh chấp hợp
đồng mua bán tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 198/2023/TLST-DS, ngày 23 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2023/QĐST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trịnh Ngọc T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp Tr, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Mai Ch, sinh năm 1997 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn:
- Ông Tiết Văn S, sinh năm 1983 (vắng mặt).
- Ông Tiết Văn M, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm G, Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28/11/2022 của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện do nguyên đơn ủy quyền chị Đỗ Thị Mai Ch trình bày:
Vào năm 2022, ông Trịnh Ngọc T có giao dịch mua bán thức ăn và thuốc nuôi Tôm với ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M thông qua Hợp đồng mua bán thức ăn ngày 18/6/2022.
Theo thỏa thuận, ông T sẽ cung cấp thức ăn, thuốc và hóa chất nuôi Tôm cho ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M thông qua sổ giao nhận hàng hóa. Hàng hóa được nhân viên giao tận nơi hoặc ông S và ông M đến lấy, được kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa trước khi nhận, có đối chiếu công nợ khi có yêu cầu. Cuối vụ thu hoạch Tôm, ông S và ông M phải thanh toán hết tiền hàng. Trường hợp, xét thấy công nợ cao hoặc vi phạm hợp đồng, ông S và ông M không thanh toán tiền thì ông T quyền cắt hàng và đề nghị thanh toán hết số tiền hàng còn nợ và lãi suất chậm trả. Thời điểm cắt hàng là thời điểm chấm dứt giao dịch.
Ông T đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, ông S và ông M nhận hàng không có phản ánh hay phàn nàn gì về chất lượng, số lượng, chủng loại hàng hóa. Tuy nhiên, ông S và ông M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, còn nợ lại ông T số tiền là 111.789.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng).
Nay ông Trịnh Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M phải thanh toán cho ông T số nợ gốc nêu trên và lãi 10%/năm tính từ ngày 08/10/2022 đến ngày 08/11/2022 là 931.000đ (chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng), tổng cộng là 112.720.000đ (một trăm mười hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Đối với bị đơn ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông T nhưng ông S và ông M không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự và ông S và ông M cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 23/10/2023, ông S và ông M vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Về tố tụng: Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Xét hợp đồng mua bán tài sản được giao kết giữa nguyên đơn là ông Trịnh Ngọc T và bị đơn là ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M là thực tế và là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, đây là giao dịch dân sự được quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại đơn xin vắng mặt, người đại diện theo ủy của nguyên đơn có trình bày rõ các yêu cầu của mình và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt người đại diện theo ủy của nguyên đơn và các bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết:
[2.1] Hai bên đã thực hiện việc mua bán tài sản như đã thỏa thuận, thể hiện theo lời trình bày của nguyên đơn, Hợp đồng mua bán giữa hai bên vào ngày 18/6/2022, Biên bản làm việc về việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 10/8/2022, Biên bản làm việc về việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 30/9/2022, các Biên bản đối chiếu xác nhận công nợ và sự không phản đối của bị đơn. Cụ thể là vào ngày 18/6/2022, hai bên ký hợp đồng mua bán và sau đó hai bên có tiến hành làm việc, xác nhận công nợ, cam kết trả nợ. Tại các Biên bản làm việc, ông S thừa nhận còn nợ của ông T số tiền là 111.789.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng) và cam kết ngày 7/10/2022 sẽ thanh toán cho ông T, nhưng ông S và ông M không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông T như cam kết. Từ các căn cứ nêu trên, đối chiếu với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, có cơ sở khách quan để kết luận việc giao dịch dân sự giữa các bên đối với việc mua bán tài sản và bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 111.789.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng) là có căn cứ. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nêu trên cho nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu trả tiền lãi 10%/năm do bị đơn chậm thanh toán trên số tiền 111.789.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng) tính từ ngày vi phạm là ngày 08/10/2022 đến ngày 08/11/2022 là 931.000đ (chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Xét thấy: Theo hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm mà hai bên đã thỏa thuận có thỏa thuận về lãi suất khi chậm thanh toán là 10%/năm, tại Biên bản làm việc với ông Tiết Văn S về việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 30/9/2022, thì bên B tức là ông S và ông M sẽ thanh toán dứt điểm số nợ cho ông T vào ngày 07/10/2022; do ông S và ông M không thực hiện đúng cam kết nên ông T yêu cầu trả lãi kể từ ngày vi phạm là có cơ sở chấp nhận.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông T có đơn yêu cầu thi hành án, ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M còn phải liên đới trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
[3] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M phải liên đới chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV. Tuy nhiên, ông Tiết Văn M thuộc đối tượng được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí nên ông M không phải chịu án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trịnh Ngọc T đối với bị đơn ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
Buộc ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Trịnh Ngọc T số tiền tổng cộng là 112.720.000đ (một trăm mười hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó tiền nợ gốc là 111.789.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn đồng) và nợ lãi từ ngày 08/10/2022 đến ngày 08/11/2022 là 931.000đ (chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông T có đơn yêu cầu thi hành án, ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M còn phải liên đới trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
-
Án phí dân sự sơ thẩm: ông Tiết Văn S và ông Tiết Văn M phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.636.000 (năm triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Tuy nhiên ông Tiết Văn M thuộc đối tượng được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí nên ông M không phải chịu án phí, do đó phần án phí được miễn cho ông Tiết Văn M là 2.818.000đ (hai triệu tám trăm mười tám nghìn đồng); ông Tiết Văn S phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.818.000đ (hai triệu tám trăm mười tám nghìn đồng).
Ông Trịnh Ngọc T không phải chịu án phí; hoàn trả cho ông T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.818.000đ (hai triệu tám trăm mười tám nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0008404 ngày 23/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Riêng các bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |
Bản án số 159/2023/DS-ST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 159/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
