|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2024/HS-ST
Ngày: 03-7-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Xuân;
2. Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn H, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: 32/8 khu phố T, phường V, thành phố T, Bình Dương; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1, sinh năm 1965 và bà Cao Thị Thu H2, sinh năm 1970; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 21/01/2022, bị Ủy ban nhân dân phường V áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại phường;
Nhân thân: Ngày 02/10/2012, bị Công an phường V xử phạt 375.000 đồng về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023 cho đến nay.
2. Trần Thanh P, sinh năm 1991, tại tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp D, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; nơi tạm trú: 04/11 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khánh H3, sinh năm 1967 và bà Huỳnh Thị Ú, sinh năm 1964; bị cáo có vợ tên Lê Thị Đài T, sinh năm 1995 và có 02 con sinh năm 2011 và 2017; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 14/02/2008, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) T xử phạt 02 (hai) năm tù về tội Cướp tài sản. Đến ngày 17/4/2009 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 04/11/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 14/5/2011 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 15/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng xử phạt 05 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Đến ngày 17/5/2016 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 01/3/2017, bị Công an thành phố T xử phạt 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 18/12/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 21 tháng. Đến ngày 28/4/2021 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Bà Lê Thị Đài T, ông Phạm Hoàng Phi L, bà Trần Thị Ngọc H4, ông Nguyễn Văn T1. Tất cả đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/7/2023, Trần Thanh P chở vợ Lê Thị Đài T và con nhỏ, Phạm Hoàng Phi L chở vợ là Trần Thị Ngọc H4, và con nhỏ cùng đi đến cơ sở trọ địa chỉ: 3 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương của Phạm Văn H để sửa xe. Khi đến nơi, T và H4 bế con nhỏ qua phòng trọ số 12 (phòng không có người ở) để chơi. P và H vô phòng trọ số 15 của H thì thấy trong phòng có sẵn 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong ống thủy tinh dạng nỏ của bộ D có sẵn một ít ma túy đá nên tự lấy sử dụng, H thấy P sử dụng ma túy và không có ý kiến gì. P và H bàn với nhau góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma túy về cả hai cùng sử dụng. P nói H sửa xe xong sẽ trả tiền sửa xe và 100.000 đồng tiền mua ma túy một lượt, nên H ứng ra trước 200.000 đồng để đi lấy ma túy. H liên lạc với người bán ma túy qua số 0367.698.652 và số 0703.069.706 để mua 200.000 đồng ma túy thì có một nam thanh niên đi xe Wave (không rõ biển số) đến giao trước nhà của H 01 bịch ma túy. Sau đó H đem ma túy vào trong phòng trọ số 15 thì lúc này có L, P và H. H trực tiếp đổ ma túy cho cả nhóm cùng sử dụng. Một lúc sau, T và H4 vào phòng trọ số 15 thấy cả nhóm đang sử dụng thì ngồi xuống sử dụng cùng. Sau khi sử dụng xong, H4 và T qua phòng trọ số 12 để chơi. Đến 20 giờ 00 phút cùng ngày, tại phòng số 15 có P, H và L. H kêu P góp mỗi người 200.000 đồng để mua ma túy về tiếp tục sử dụng nhưng P không đồng ý (sự việc này thì L hoàn toàn không biết). Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H tiếp tục liên hệ cho người bán ma túy trước đó mua 400.000 đồng ma túy. Khi quay về phòng trọ số 15 thì H trực tiếp đổ ma túy ra cho L và P cùng sử dụng. Một lúc sau có Nguyễn Văn T1, Lê Thị Đài T và Trần Thị Ngọc H4 đến phòng trọ số 15 sử dụng cùng. Sau khi sử dụng xong, L, H4 và T qua phòng trọ số 12 để chơi.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/7/2023, Công an phường V tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở trọ địa chỉ: 3 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương do Phạm Văn H làm chủ. Khi tiến hành kiểm tra đến phòng trọ số 15 thì lúc này trong phòng có Phạm Văn H, Trần Thanh P và Nguyễn Văn T1. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bên trong bộ dụng cụ không còn ma túy). Qua làm việc Phạm Văn H, Trần Thanh P, Nguyễn Văn T1 khai nhận đã cùng với Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4, Lê Thị Đài T vừa sử dụng ma tuý tại phòng trọ số A. Sau khi sử dụng xong thì L, H4 và T đã qua phòng trọ số 12 của cơ sở trọ để chơi nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản kiểm tra hành chính, thu giữ tang vật và đưa Phạm Văn H, Trần Thanh P, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4, Lê Thị Đài T về trụ sở Công an phường để làm rõ.
Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/7/2023 của Trung tâm Y tế thành phố T xác định: Phạm Văn H, Trần Thanh P, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4, Lê Thị Đài T đều nghiện ma túy loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (gồm: 01 chai nhựa không tem nhãn, đầu có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh)
Tại Cáo trạng số 165/CT-VKS-TA ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Trần Thanh P về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Văn H và Trần Thanh P về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và áp dụng:
- - Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; các Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.
- - Điểm b Khoản 2 Điều 255; các Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thanh P từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.
Đối với Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4, Lê Thị Đài T không biết việc Phạm Văn H, Trần Thanh P bàn bạc thống nhất hùn tiền mua ma túy để sử dụng và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 02/7/2023 tại phòng trọ số 15 của Phạm Văn H. Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội đối với T1, P, H4 và T mỗi người 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với người thanh niên có đặc điểm khoảng ngoài 30 tuổi, nói giọng miền nam, dáng người cao khoảng 1m60 đã bán ma túy cho Phạm Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Đối với hành vi tàng trữ 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (gồm: 01 chai nhựa không tem nhãn, đầu có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi nêu trên đối với Phạm Văn H.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa không tem nhãn đầu có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh).
Tại phiên toà, các bị cáo Phạm Văn H, Trần Thanh P thống nhất với tội danh và điều luật như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn H, Trần Thanh P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo trước Tòa. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/7/2023, tại phòng trọ số 15 cơ sở trọ tại 3 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phạm Văn H có hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để tổ chức cho Trần Thanh P sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Trần Thanh P và Phạm Văn H cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để tổ chức cho Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4 và Lê Thị Đài T cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, cũng tại phòng trọ số A, Phạm Văn H tiếp tục có hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để tổ chức cho Trần Thanh P, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4, Lê Thị Đài T cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo Phạm Văn H và Trần Thanh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Hình sự và sẽ bị xử lý nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[4] Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bị cáo Phạm Văn H là người mua ma túy và cung cấp địa điểm cho các đối tượng sử dụng; bị cáo P góp tiền mua ma tuý cho các đối tượng sử dụng, nhưng bị cáo H có nhân thân xấu nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia là phù hợp với tính chất hành vi của các bị cáo nên được chấp nhận.
[6] Đối với hành vi tham gia sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4, Lê Thị Đài T quá trình điều tra xác định ông T1, ông L, bà H4, bà T là người nghiện ma túy chỉ đến phòng trọ số 15 của Phạm Văn H để tham gia sử dụng ma túy, ông T1, ông L, bà H4, bà T không bàn bạc không hùn tiền và không chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy. Do đó hành vi của Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng Phi L, Trần Thị Ngọc H4, Lê Thị Đài T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về an ninh và trật tự an toàn xã hội là đúng quy định của pháp luật.
[7] Đối với người thanh niên có đặc điểm khoảng ngoài 30 tuổi, nói giọng miền nam, dáng người cao khoảng 1m60 đã bán ma túy cho Phạm Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[8] Đối với hành vi tàng trữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa không tem nhãn đầu có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi nêu trên đối với Phạm Văn H là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về xử lý vật chứng:
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (gồm: 01 chai nhựa không tem nhãn, đầu có gắn 01 ống hút bằng nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh) là công cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Văn H;
- - Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Thanh P;
- - Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H, Trần Thanh P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 03/7/2023.
+ Xử phạt bị cáo Trần Thanh P 09 (chín) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 03/7/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý (gồm 01 chai nhựa không tem nhãn, đầu có gắn một ống hút nhựa và 01 nỏ thuỷ tinh).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn H, Trần Thanh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thanh Thuỷ |
Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 156/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
