|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:156/2024/HS-PT Ngày: 05-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Khắc Thịnh |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Tuấn Anh |
| Ông Phạm Minh Tùng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01 và 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 120/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Văn V. Do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn V và bị hại Nguyễn Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.
- Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Văn V, sinh năm 1979, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Số A, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hồng K và con bà Cao Bích T1; có vợ (đã chết) và 03 người con; tiền sự, tiền án: Không; tạm V, tạm giam: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 (có mặt).
Nơi cư trú: Số G, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 22/9/2023, Đỗ Văn V và Nguyễn Văn T dự đám tang tại nhà bà Nguyễn Thị Mỹ N tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Tại đây, V và T ngồi uống rượu chung bàn cùng với một số người khác.
Trong lúc uống rượu, thấy T nói chuyện trêu đùa và có cử chỉ đụng chạm với người phụ nữ ngồi chung bàn, V lên tiếng nhắc nhở rồi cả hai phát sinh cự cãi, T thách thức nói với V nhiều lần có giỏi đánh tao đi. Lúc này, V đứng lên dùng tay phải cầm ly thủy tinh (loại ly có quay cầm) trên bàn đánh 01 cái trúng vào mặt bên trái của T gây thương tích, sự việc được mọi người can ngăn, T được đưa đến Trung tâm y tế huyện L khâu vết thương rồi về nhà. Ngày 23/9/2023, T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với V.
Đối với ly thủy tinh Đỗ Văn V dùng gây thương tích cho Nguyễn Văn T, sau khi xảy ra vụ việc, bà Nguyễn Thị Mỹ N đã ném bỏ nên không thu hồi được.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 388 ngày 11/10/2023, của Trung tâm pháp y thuộc sở Y tế tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T như sau:
- - 02 sẹo vết thương phần mềm vùng chân mày trái, trước tai trái kích thước nhỏ, mỗi sẹo 03%.
- - Sẹo vết thương phần mềm dưới mi mắt trái đến cằm trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 06%.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T tại thời điểm giám định là 12%.
- - Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra.
- - Các tổn thương trên do vật tày gây ra.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T yêu cầu Đỗ Văn V bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại số tiền 50.000.000 đồng. Trong đó, chi phí điều trị thương tích 1.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất 2.000.000 đồng (04 ngày x 500.000 đồng); tiền bù đắp tổn thất tinh thần 47.000.000 đồng. Đối với yêu cầu này, Đỗ Văn V đồng ý bồi thường chi phí điều trị 1.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất 2.000.000 đồng; còn tiền bù đắp tổn thất tinh thần thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2024/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29 tháng 3 và ngày 01 tháng 4 năm 2024, bị cáo Đỗ Văn V và bị hại Nguyễn Văn T cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo cho bị cáo V.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Đỗ Văn V bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Đỗ Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại và được bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị hại Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo V được hưởng án treo với lý do gia đình của bị cáo đang gặp khó khăn, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình nuôi cha mẹ già và 03 con còn nhỏ; bị cáo V đã bồi thường cho bị hại xong thể hiện thái độ sửa sai của bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết mới mà bị cáo và bị hại cung cấp không là điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn V và bị hại Nguyễn Văn T, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn V, giảm cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
Bị cáo Đỗ Văn V và bị hại không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Văn V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/9/2023, tại nhà của bà Nguyễn Thị Mỹ N, bị cáo V có hành vi dùng tay phải cầm ly thủy tinh (loại ly có quay cầm) đánh 01 cái trúng vào mặt bên trái gây thương tích cho bị hại Nguyễn Văn T với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Đỗ Văn V là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng ly thủy tinh gây thương tích cho bị hại. Bị cáo nhận thức được ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng ly thủy tinh này tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 12%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, có cung cấp tình tiết mới là sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, được bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị hại Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V và xin cho bị cáo V được hưởng án treo với lý do gia đình của bị cáo đang gặp khó khăn, vợ bị cáo mới chết, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình nuôi cha mẹ già bị bệnh và 03 con còn nhỏ; bị cáo V đã bồi thường cho bị hại xong thể hiện thái độ sửa sai, ăn năn của bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà án sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, các tình tiết mới mà bị cáo và bị hại cung cấp không là điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Xét thấy bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cũng cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo V và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V của bị hại Nguyễn Văn T, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn V.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Đỗ Văn V là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn V và bị hại Nguyễn Văn T được chấp nhận nên bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn V và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V của bị hại Nguyễn Văn T. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn V.
2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Đỗ Văn V và bị hại Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 156/2024/HS-PT ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 156/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
