|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2025/HS-PT
Ngày: 05/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Hạnh |
| Bà Trần Thị Thanh Thảo |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lưu Mạnh Hoan - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/HSPT ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Hoàng Tuấn A và Nguyễn Anh N do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh N và người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Tuấn A và Nguyễn Anh N đối với bản án hình sự sơ thẩm số 334/2024/HSST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Hoàng Tuấn A sinh ngày 09072007ại tỉnh Phú Thọ(Khi phạm tội 16 tuổi 10 tháng 23 ngày); ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: NamQuốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: KinhTôn giáo: Thiên chúa giáoNghề nghiệp: Lao động tự doTrình độ học vấn: 8/12; Con ông: Hoàng Văn G; Con bà: Nguyễn Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
- Nguyễn Anh N1 ngày 08092007tại tỉnh Phú Thọ(Khi phạm tội 16 tuổi 8 tháng 25 ngày); ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Khu D, xã H, huyện T, tỉnh Phú ThọGiới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: KinhTôn giáo: Thiên chúa giáoNghề nghiệp: Học sinhTrình độ học vấn: 11/12; Con ông: Nguyễn Văn T1; Con bà: Hoàng Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh N và Hoàng Tuấn A: Bà Nguyễn Minh T2 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Tuấn A: Ông Hoàng Văn G, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; Cùng trú tại: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên toà).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Anh N: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1987; Cùng trú tại: Khu D, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân quận N, Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h ngày 03/6/2024, tổ công tác Đ2 - Công an quận N tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ 401, OV14.20, KĐT X, N, Hà Nội. Tại thời điểm kiểm tra tổ công tác phát hiện trong phòng có Lê Ngọc T3 (SN: 2005, HKTT: Sơn Thủy, T, Phú Thọ); Đinh Công H1 (SN: 2005, HKTT: Lương Nha, T, Phú Thọ), Nguyễn Anh T4 (SN: 2002, HKTT: B, T, Phú Thọ) và Lê Đức T5 (SN: 2005, HKTT: Y, Y, Ninh Bình) cùng với 02 thanh kiếm dài; 03 Biển kiểm soát xe máy đã bị chặt đứt; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen-bạc, không BKS, số khung: RLHJA3923NY450175, số máy: JA39E2880263; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-bạc, BKS: 19L1-318.10, số khung RLHJA3927NY238430, số máy: JA39E2735378. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, tổ công tác tiến hành lập biên bản, thu giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở để tiếp tục xác minh làm rõ. Quá trình xác minh, xác định: 02 thanh kiếm dài là do T3, H1, T4, T5 cùng với Nguyễn Quốc V (SN: 2005, HKTT: B, T, Phú Thọ); Khuất Duy H2 (SN: 2006, HKTT: Tu Vũ, T, Phú Thọ), Lê Ngọc H3 (SN: 2007, HKTT: Đ, T, Phú Thọ); Lê Đình C (SN: 2006, HKTT: Đoan Hạ, T, Phú Thọ); Hoàng Tuấn A (SN: 2007, HKTT: H, T, Phú Thọ); Nguyễn Anh N (SN: 2007, HKTT: H, T, Phú Thọ); Khuất Đình S (SN: 2007, HKTT: Tu Vũ, T, Phú Thọ); Đặng Quốc K (SN: 2007, HKTT: Chăn Nưa, S, Lai Châu); Quản Trọng Q (SN: 2007, HKTT: Tu Vũ, T, Phú Thọ) và Tạ Duy N2 (SN: 2006, HKTT: Tu Vũ, T, Phú Thọ) mang đi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng vào ngày 02/6/2024 tại M, N, Hà Nội. Sau đó các đối tượng thực hiện việc chặt các biển kiểm soát của xe máy rồi mang về.
Quá trình điều tra xác định:
T3 và H1 là sinh viên, thuê trọ tại phòng 401, OV14.20 X, N, Hà Nội. Qua các mối quan hệ xã hội, H3 có quen biết với T3, H1, T5, V, C và Tuấn A; V quen biết với H2, N, S, T4 và T3; Sáng quen biết với Q, K và N2. Khoảng chiều ngày 01/6/2024, H3 đang chơi game gần khu vực Xuân P thì đăng nhập tài khoản facebook của mình thấy trên nhóm “Hà Nội 24h” nhắn tin với nội dung rủ nhau cầm dao kiếm đi diễu hành ngoài đường. H3 nhắn lại vào nhóm là cũng muốn đi thì có người sử dụng tài khoản facebook “Mất tích” nhắn tin bảo H3 gửi vị trí để tụ tập. H3 gửi cho tài khoản facebook “Mất tích” vị trí nhà trọ của T3. Sau đó H3 liên lạc với C đến đón mình để rủ đi cùng. Cùng ngày, T4 rủ V đi Hà Nội để tìm việc làm, sau đó V liên hệ với T3 để bảo T3 cho T4 ở nhờ nhà trong quá trình T4 đi tìm việc và được T3 đồng ý. V tiếp tục rủ H2 đến nhà để đi cùng T4 và V. Ngoài ra, V liên lạc với N, Tuấn A và S rồi S rủ thêm N2, K và Q để cùng V đến nhà trọ của T3. Đến khoảng 23h cùng ngày thì nhóm của V gồm: V, H2, Tuấn A, N, T4, S, N2, K và Q cùng hẹn nhau ở Cầu Đ, Phú Thọ để đi xuống Hà Nội. H3 được C đến đón và chờ ở nhà trọ của T3. Khi đến nơi thì T3 và H1 không có mặt tại nhà trọ do đang trên đường từ nhà Phú Thọ quay về. Lúc này có T5 cũng đến nhà trọ của T3 chơi thì gặp H3 và C, H3 rủ T5 tham gia nhóm của H3 để đi diễu phố cùng.
Đến khoảng hơn 00 giờ 30 ngày 02/6/2024, nhóm của tài khoản facebook “Mất tích” đi 04 xe máy cùng 08 nam thanh niên, mang theo 02 phóng lợn gắn tuýp sắt đến tụ tập dưới sảnh nhà trọ của T3. Khoảng 15phút sau thì V cùng với T4, N, Tuấn A, N2, K, Q, S và H2 cũng đến. Cả nhóm cùng rủ nhau đi diễu giáo thị uy ngoài đường. H3 bảo C xuống trước còn mình lấy 02 thanh kiếm dài có sẵn trên phòng T3 xuống sau. Sau đó cả nhóm phân chia nhau cầm vũ khí, người điều khiển và người ngồi sau cụ thể:
- + V điều khiển xe Honda Vision (xe của H2), màu ghi, không đeo BKS chở H2 ngồi sau;
- + C điều khiển xe Honda Wave (xe của C), màu đen-đỏ, không đeo BKS chở H3 ngồi sau cầm 01 phóng lợn gắn tuýp sắt;
- + N điều khiển xe Honda Wave, màu đen, không đeo BKS (xe của Tuấn A) chở Tuấn A ngồi sau cầm 01 kiếm;
- + Sáng điều khiển xe Honda Wave (xe của Sáng), màu đen-trắng, không đeo BKS chở Q;
- + K điều khiển xe Honda Wave (xe của Q), màu đen-đỏ, không đeo BKS chở N2 ngồi sau;
- + Nhóm tài khoản “Mất tích” (gồm 08 người) chia đều nhau ra 04 xe máy, 01 xe có người ngồi sau cầm 01 dao phóng lợn gắn tuýp sắt và 01 xe có người ngồi sau cầm kiếm.
- + Do T4 và T5 muốn đợi H1 và T3 về nhà trọ rồi mới tham gia cùng nên ngồi chờ ở phòng.
Khoảng 01h15phút, cả nhóm của H3 xuất phát từ nhà trọ của T3 cầm hung khí đi ra hướng đường 70 rồi rẽ ra quảng trường sân vận động M2 rồi diễu, lượn nhiều vòng xung quanh khu vực quảng trường sân vận động M2. Đến khoảng gần 01h30 phút cùng ngày thì T3 và H1 về đến nhà trọ rồi cùng rủ T5 và T4 tham gia cùng nhóm của H3. T3 điều khiển xe Honda Wave (xe của T3), màu xanh-tím, không BKS chở H1; T4 điều khiển xe Honda Wave (xe của H1), màu đen, không đeo BKS chở T5 ra đến đầu ngõ nhà trọ thì gặp H2 và V bị lạc đoàn do đi đổ xăng. Sau đó T3, H1, T5, T4, V và H2 ra khu vực quảng trường sân vận động M2. Ra đến nơi thì T3 liên lạc với H3 rồi gửi vị trí cho H3 cùng cả nhóm ra rồi mới tiếp tục đi. Khi H3 cùng cả nhóm ra chỗ T3 thì đứng nói chuyện một lúc rồi đều đồng ý tiếp tục đi diễu giáo thị uy ngoài đường. Cả nhóm trên bắt đầu đi diễu giáo thị uy bằng cách cầm hung khí nguy hiểm (nếu gặp đối thủ thì sẽ đánh nhau), đi với tốc độ cao, không đội mũ bảo hiểm, lạng lách, đánh võng, bấm còi inh ỏi trên tuyến đường L - L, lượn vòng xung quanh quảng trường sân vận động M2 rồi rẽ ra Hồ Tùng M đến chân cầu vượt M, đi thẳng Phạm Văn Đ, qua cầu T gần đến nơi có biển báo địa phận huyện M thì dừng lại. Tại đây cả nhóm của H3 cùng nhau đứng chụp ảnh, chụp ảnh xong thì cả nhóm quay lại cung đường cũ. Tuy nhiên, quá trình đuổi theo nhau một số xe đã bị lạc đoàn. Cụ thể:
- Xe của T3, H1 và 01 xe máy đi 02 người trong nhóm (chưa rõ nhân thân) đi đến cây xăng P1 để đổ xăng. Đổ xăng xong do bị lạc đoàn nên rủ nhau đến khu vực KĐT R ngồi uống nước với nhau;
- Xe của T4, T5 bị lạc đoàn nên đi đến khu vực đường L ngồi uống nước;
- Xe của V đi cùng H2, K đi cùng N2, S đi cùng Q và 01 xe đi 01 người (chưa rõ nhân thân) tiếp tục đi ra quảng trường sân vận động M2 thì H2 bảo với nhóm đi thăm bạn bị ngã nên V sang xe của S, còn Q sang xe của người đi một mình. Cả nhóm tiếp tục lượn vòng quanh quảng trường sân vận động M2 vài vòng nữa thì rẽ phải Châu Văn L ra hướng đường Đ;
- Xe của H3 đi cùng C; xe của N chở Tuấn A và 02 xe khác đi 04 người (chưa rõ nhân thân) rẽ ra đường H rồi đi thẳng đến khu vực gần chợ đầu mối Minh K1 gặp 03 nam thanh niên đi trên một xe máy Honda Wave, màu trắng thì cả nhóm đuổi theo vào trong ngõ rồi chặn đầu, chặn đít chiếc xe trên. 03 thanh niên hoảng sợ xuống xe thì Tuấn A chạy đến cầm thanh kiếm rồi chặt vào đuôi xe nhưng BKS xe chưa rơi ra. Sau đó, H3 tiếp tục vào lấy kiếm từ Tuấn A chặt liên tiếp khiến BKS xe rơi ra và nhặt BKS đưa cho Tuấn A cầm rồi tiếp tục đi lượn phố, thị uy. Khi quay lại khu vực quảng trường sân vận động M2 thì lạc mất 02 xe chỉ còn xe của C chở H3 và xe của N chở Tuấn A. Đi đến vòng xoay Lê Quang Đ1 – M thì C bảo với H3 sang xe của N và Tuấn A để C về nhà trọ ngủ. Lúc này N điều khiển, Tuấn A ngồi giữa còn H3 ngồi ngoài cùng rồi đi tiếp. N, H3 và Tuấn A tiếp tục lượn quanh quảng trường sân vận động M2 đến chỗ hàng rào sắt đối diện cung hữu nghị V thì có 02 thanh niên đi xe Honda Wave màu trắng, BKS: 29F1-558.08 vượt qua. Nghĩ rằng 02 thanh niên này khiêu khích nên N, Tuấn A và H3 phóng xe đuổi theo. Đuổi đến trước trường THCS P2 thì ép được xe trên. 02 thanh niên này thấy Tuấn A, H3 cầm dao phóng lợn gắn tuýp sắt và kiếm nên hoảng sợ nhảy xuống xe. Thấy vậy, Tuấn A dùng kiếm chém vào BKS xe rồi H3 dùng chân đạp vào biển số xe này khiến biển số bị rơi ra. H3 nhặt biển lên đưa cho Tuấn A rồi bỏ đi. Sau đó N, Tuấn A và H3 rẽ ra đường C hướng ra Đại Lộ T thì dừng lại. H3 gửi vị trí cho T3 để bảo mọi người ra tụ lại.
Đến khoảng 03h30 cùng ngày cả nhóm gồm: T3, H1, T4, T5, V, S, N2, K và Q đi đến chỗ của H3, Tuấn A và N, ngoài ra còn có 02 xe máy chở 04 người (chưa rõ nhân thân) cũng đi đến và cầm theo 01 BKS: 29V3-461.50. Lúc này cả nhóm đứng nói chuyện với nhau một lúc rồi cùng nhau cầm dao phóng lợn gắn tuýp sắt, kiếm và BKS vừa chặt được chụp ảnh. Chụp ảnh xong thì chúng tôi rẽ xuống hầm chui Đại lộ thăng L1, tại đây thì H3 cùng với T5 mỗi người cầm 01 dao phóng lợn gắn tuýp sắt vào 01 BKS vừa chặt được tiếp tục chụp ảnh. Chụp ảnh xong thì cả nhóm rẽ lên đường gom Đại Lộ T rồi giải tán. Nhóm của V, S, N, Tuấn A, Q, K và N2 thì đi về Phú Thọ. Trên đường đi về thì gặp H2 cũng đang về Phú Thọ nên nhóm rủ đi cùng. T4, T5, T3 và H1 về phòng trọ của T3 ngủ. H3 đi theo nhóm người của tài khoản “mất tích” để đem dao phóng lợn gắn tuýp sắt cất giấu tại khu vực cầu T. Khi cất giấu dao phóng lợn gắn tuýp sắt xong thì H3 cầm theo 02 kiếm và 03 BKS vừa chặt được nhờ người trong nhóm của tài khoản “mất tích” chở về nhà trọ của T3 cất dấu rồi ngủ tại đây. Đến chiều ngày 02/6/2024, H3 gọi C đến đón mình để về Phú Thọ.
Tại cơ quan điều tra, Lê Ngọc T3, Đinh Công H1, Nguyễn Anh T4, Lê Đức T5, Nguyễn Quốc V, Khuất Duy H2, Lê Ngọc H3, Lê Đình C, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Anh N, Khuất Đình S, Quản Trọng Q, Dương Quốc K2 và Tạ Duy N2 đã đầu thú và thành khẩn khai báo nội dụng sự việc như trên, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ thu thập được.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 Thanh kiếm dài khoảng 75cm, chuôi gỗ bọc kim loại dài khoảng 20cm, lưỡi kiếm kim loại dài khoảng 55cm có bao gỗ cuốn băng dính đen bên ngoài;
- 01 Thanh kiếm dài khoảng 90cm, chuôi gỗ bọc kim loại dài khoảng 25cm, lưỡi kiếm kim loại dài khoảng 65cm phần gáy của lưỡi kiếm có răng cưa;
- 03 Biển kiểm soát xe máy: 29F1-558.08; 37L1-707.08; 29V3-461.50;
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen-bạc, không BKS, số khung: RLHJA3923NY450175, số máy: JA39E2880263;
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-bạc, BKS: 19L1-318.10, số khung RLHJA3927NY238430, số máy: JA39E2735378.
Ngày 14/6/2024, UBND phường M đã có công văn đề nghị Công an quận N, Hà Nội điều tra xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen-bạc, không BKS, số khung: RLHJA3923NY450175, số máy: JA39E2880263; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-bạc, BKS: 19L1-318.10, số khung RLHJA3927NY238430, số máy: JA39E2735378.
Tại bản kết luận giám định số 6020/KL-KTHS ngày 22/8/2024 của Phòng K3 – Công an Thành phố H kết luận:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen-bạc, không BKS, có số khung: RLHJA3923NY450175, có số máy: JA39E2880263 là số nguyên thủy;
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-bạc, BKS: 19L1-318.10, có số khung RLHJA3927NY238430, có số máy: JA39E2735378 là số nguyên thủy;
- Không giám định biển kiểm soát: 19L1 – 318.10 do không có mẫu so sánh.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra yêu cầu định giá tài sản để định giá: 01 Biển kiểm soát xe máy: 29F1-558.08; 01 Biển kiểm soát xe máy: 37L1-707.08; 01 Biển kiểm soát xe máy: 29V3-461.50.
Tại Bản kết luận định giá định tài sản số 207 ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự – UBND quận N kết luận: Chưa đủ cơ sở để định giá 03 biển kiểm soát trên.
Đối với các bị cáo Lê Ngọc H3, Nguyễn Anh N, Lê Đình C và Hoàng Tuấn A đều khai nhận việc thực hiện hành vi chặt biển kiểm soát xe máy: 29F1-558.08; biển kiểm soát xe máy: 37L1-707.08; biển kiểm soát xe máy: 29V3-461.50 sau đó cầm rồi chụp ảnh và không có ý muốn chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh đối với các chủ sở hữu của các biển kiểm soát trên nhưng không xác định được người bị hại, không thu giữ được các xe đeo biển kiểm soát trên, ngoài ra không đủ cơ sở để định giá tài sản đối với 03 biển kiểm soát trên. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để xử lý hành vi chặt biển kiểm soát đối với các bị cáo Lê Ngọc H3, Nguyễn Anh N, Lê Đình C và Hoàng Tuấn A.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen-bạc, không BKS, số khung: RLHJA3923NY450175, số máy: JA39E2880263, tra cứu chủ sở hữu là anh Hoàng Đức D, SN 2004, HKTT: Khu A, H, T, Phú Thọ. Tại Cơ quan điều tra, anh D trình bày ngày 01/6/2024, T3 liên hệ với anh D hỏi mượn chiếc xe trên để đi về quê thăm bố, mẹ. Anh D đồng ý cho mượn và không biết việc T3 sử dụng chiếc xe để tham gia gây rối trật tự công cộng.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen-bạc, BKS: 19L1-318.10, số khung RLHJA3927NY238430, số máy: JA39E2735378, tra cứu chủ sở hữu là anh Nguyễn Quang T6, SN 1972, HKTT: Khu A, B, T, Phú Thọ. Tại Cơ quan điều tra, anh T6 trình bày cho con trai là bị can Nguyễn Anh T4 mượn để phục vụ việc đi làm. Anh T6 không biết việc Anh T4 sử dụng để tham gia gây rối trật tự công cộng.
Tiến hành tra cứu 02 chiếc xe mô tô trên xác định không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 14/10/2024, Cơ quan điều tra Công an quận N đã xử lý vật chứng trao trả 02 chiếc xe mô tô trên cho anh Hoàng Đức D và anh Nguyễn Quang T6. Anh D1 và anh T6 đã nhận xe và không có đề nghị gì khác.
Xác minh chủ sở hữu của biển kiểm soát xe máy: 29F1-558.08 là anh Nguyễn Phong H4, SN 1982, HKTT: 15D ngõ 9, Đặng Thai M1, Q, T, Hà Nội; chủ sở hữu biển kiểm soát xe máy: 37L1-707.08 là chị Ngô Thị T7, SN 1976, HKTT: K19, M, TX H, Nghệ An; chủ sở hữu biển kiểm soát xe máy: 29V3-461.50 là chị Nguyễn Phương T8, SN 1988, HKTT: Cụm E, T, P, Hà Nội. Tại cơ quan CSĐT anh H4 và chị T8 đều khai nhận đã bán những chiếc xe trên. Hiện tại không nhớ bán cho ai, không biết nhân thân người mua xe và không lưu số điện thoại của những người mua xe. Đối với chị T7 khai nhận chiếc xe mang BKS: 37L1-707.08, chị T7 vẫn đang sử dụng bình thường, không bị mất biển hoặc thiệt hại gì khác. Chị T7 không sử dụng hoặc cho ai mượn để sử dụng chiếc xe trên ở khu vực Hà Nội. Anh H4, chị T8 và chị T7 không có đề nghị yêu cầu gì về dân sự.
Đối với các đối tượng thuộc nhóm tên facebook “Mất tích” chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến các đối tượng này để điều tra, xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 334/2024/HSST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đã xét xử:
1.Tuyên bố các bị cáo Hoàng Tuấn A; Nguyễn Anh N phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt các bị cáo:
- - Hoàng Tuấn A 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2024.
- - Nguyễn Anh N 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/11/2024, ông Hoàng Văn G là người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Tuấn A có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Ngày 26/11/2024, ông Nguyễn Văn T1 là người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Anh N và bị cáo N có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo và những người đại diện hợp pháp của các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, biết hối lỗi do hành vi phạm tội của mình gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tại phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định, đúng về chủ thể nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Căn cứ lời khai của các bị cáo, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Anh N, Hoàng Tuấn A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo thấy: Các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nông nổi, bồng bột; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; tại cấp phúc thẩm đại diện hợp pháp của các bị cáo xuất trình tình tiết mới là Đơn xin xác nhận gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; ông ngoại bị cáo Hoàng Tuấn A là ông Nguyễn Đình T9 được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và là thương binh. Cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xét xử Hoàng Tuấn A 24 ( hai mươi bốn) tháng tù; Nguyễn Anh N 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, là người chưa thành niên phạm tội nên chấp nhận kháng cáo và sửa án sơ thẩm theo hướng cho các bị cáo hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng rèn luyện trở thành người tốt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa án sơ thẩm, cụ thể: Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Hoàng Tuấn A 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng; Nguyễn Anh N 21(hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng.
+ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Anh N và Hoàng Tuấn A là bà Nguyễn Minh T2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H có quan điểm: Nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, án sơ thẩm đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo nhưng còn nghiêm khắc, chưa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và tài liệu trong hồ sơ vụ án. Khi phạm tội các bị cáo chưa thành niên, vừa bước qua tuổi thiếu niên, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị rủ rê, lôi kéo, nhận thức pháp luật còn hạn chế, ngây ngô, đề nghị gia đình các bị cáo quản lý con chặt chẽ hơn. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ mải làm ăn nên cũng không để ý nhiều đến các con. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội, trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ lời khai của các bị cáo, lời khai của những người làm chứng, người liên quan, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hoàng Tuấn A và Nguyễn Anh N cùng các đồng phạm khác đã có hành vi tụ tập, điều khiển xe máy với tốc độ cao, không đội mũ bảo hiểm, lạng lách đánh võng, cầm theo hung khí di chuyển trên nhiều tuyến đường thuộc địa bàn phường M và một số phường thuộc quận N, sau đó rẽ ra Hồ Tùng M đi thẳng Phạm Văn Đ qua cầu T. Các bị cáo còn có hành vi dàn hàng chụp ảnh dưới lòng đường. Ngoài ra, N và Tuấn A cùng nhau có hành vi chặt biển kiểm soát tại khu vực gần chợ đầu mối M, khu vực trước cổng trường THCS P2, rồi chụp ảnh. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tội phạm xảy ra. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ hành vi hò hét, mang hung khí, phóng xe máy đánh võng trên đường gây mất trật tự trị an nơi công cộng là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Hoàng Tuấn A 24 (hai mươi bốn) tháng tù; Nguyễn Anh N 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi phạm tội các bị cáo ra đầu thú, có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; Hoàng Tuấn A phạm tội 16 tuổi 10 tháng 23 ngày, Nguyễn Anh N3 tội 16 tuổi 8 tháng 25 ngày; tại cấp phúc thẩm đại diện hợp pháp của các bị cáo xuất trình tình tiết mới là Đơn xin xác nhận gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; ông ngoại bị cáo Hoàng Tuấn A là ông Nguyễn Đình T9 được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và là thương binh nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và sửa án sơ thẩm theo hướng cho các bị cáo hưởng án treo, để các bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng rèn luyện trở thành người tốt.
Về án phí:
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, xử:
Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, Xử phạt các bị cáo:
- - Nguyễn Anh N 21 (hai mươi mốt) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Anh N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Hoàng Tuấn A 24 ( hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Hoàng Tuấn A cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọgiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Trả tự do cho các bị cáo Nguyễn Anh N và Hoàng Tuấn A tại phiên toà nếu không bị giam giữ về một tội phạm khác.
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Nguyễn Anh N và Hoàng Tuấn A cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu các bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì ngoài việc phải chấp hành hình phạt của tội mới còn phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Thuỷ |
Bản án số 156/2025/HS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 156/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Hoàng Tuấn A; Nguyễn Anh N phạm tội:“Gây rối trật tự công cộng”
