|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-05-2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Quốc Hùng
Ông Lưu Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang – Thư ký TAND thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thu Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 151/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 05 năm 2025 về việc Ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 05 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 12/01/1984
Căn cước công dân số ************ do Cục Q1 về trật tự xã hội cấp ngày 25/04/2021; Hộ chiếu số: P******** do Cục Q2 cấp ngày 27/09/2022; Nơi thường trú: T, L, T, thành phố Hà Nội; Hiện ở: Australia. Chị T xin vắng mặt.
Bị đơn: Anh Phùng Ngọc H, sinh ngày 23/10/1979
Căn cước công dân số ************ do Cục Q1 về trật tự xã hội cấp ngày 25/04/2021; Nơi thường trú: Thôn T, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Anh H có mặt.
Chị Nguyễn Thị T ủy quyền cho anh Phùng Ngọc H giao nộp và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã L, T, thành phố Hà Nội vào ngày 20/09/2002. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống cùng gia đình tại T, L, T, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị thường xảy ra những mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau. Các mâu thuẫn này ngày càng lớn, không được giải tỏa nên chị T bị stress về tinh thần, quan hệ vợ chồng cũng lạnh nhạt từ lâu. Năm 2023, chị T sang Úc để giải tỏa stress nên về tình cảm anh chị không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay, chị Thu N thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Ngọc H.
- - Về con chung: Anh Phùng Ngọc H và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là cháu Phùng Thu H1, sinh ngày 28/09/2003 và cháu Phùng Minh Q, sinh ngày 05/12/2007. Cháu H1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn, anh chị thỏa thuận anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q, chị T tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng.
- - Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phùng Ngọc H trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Phùng Ngọc H thống nhất với ý kiến của chị T về quá trình kết hôn, chung sống và phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Hiện nay, chị T đang sinh sống và làm việc tại Australia không về, anh H sống ở Việt Nam. Anh chị không còn tình cảm với nhau nữa. Do vậy anh H cũng đồng ý yêu cầu xin ly hôn của chị T và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn để ổn định cuộc sống.
- - Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Phùng Thu H1, sinh ngày 28/09/2003 và cháu Phùng Minh Q, sinh ngày 05/12/2007. Cháu H1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn, anh chị thỏa thuận anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q, chị T tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng.
- - Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chung: Anh Phùng Ngọc H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- - Anh Phùng Ngọc H có mặt tại phiên tòa và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên.
- - Chị Nguyễn Thị T sinh sống và làm việc tại nước ngoài, không có điều kiện đến Tòa án để giải quyết ly hôn nên đã có đơn xin vắng mặt. Anh H đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết có trách nhiệm thông báo lại cho chị Nguyễn Thị T.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Do chị Nguyễn Thị T đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Nguyễn Thị T và anh Phùng Ngọc H kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, T, thành phố Hà Nội vào ngày 20/09/2002 theo đúng quy định của pháp luật. Xét cuộc sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân mà không có biện pháp giải quyết nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: Giao cho anh H được nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Minh Q, sinh ngày 05/12/2007. Cháu H1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ly hôn, anh chị thỏa thuận anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q, chị T tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng, đề nghị HĐXX ghi nhận. Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chung chung. Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị T có đơn xin ly hôn với anh Phùng Ngọc H, do chị T đang làm việc ở nước ngoài (Australia) nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, anh Phùng Ngọc H có mặt, chị Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt và đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng qua anh H. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phùng Ngọc H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, T, thành phố Hà Nội vào ngày 20/09/2002 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T và anh H xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo hai anh chị trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Chị T sang Australia sinh sống và làm việc từ năm 2023, vợ chồng anh chị không còn chung sống cùng nhau từ đó đến nay. Mặc dù hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn vẫn không được giải quyết, đời sống vợ chồng ngày càng căng thẳng khiến hai anh chị mệt mỏi. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh Phùng Ngọc H và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là cháu Phùng Thu H1, sinh ngày 28/09/2003 và cháu Phùng Minh Q, sinh ngày 05/12/2007. Cháu Q hiện đang sinh sống ổn định cùng anh H tại Việt Nam. Cháu biết bố mẹ chung sống không hạnh phúc, thường cãi vã lớn tiếng về cuộc sống thường ngày. Cháu mong bố mẹ hàn gắn tình cảm và chung sống hạnh phúc như trước đây nhưng nếu bố mẹ phải ly hôn, cháu có nguyện vọng ở cùng bố Phùng Ngọc H. Xét thấy, hiện cháu Q đang sinh sống và học tập ổn định cùng anh H tại Việt Nam. Ngoài ra, cháu cũng có nguyện vọng ở cùng bố. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con, tránh gây ảnh hưởng đến tâm lý, cần giao cho anh H nuôi dưỡng cháu Phùng Minh Q. Ghi nhận chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng. Cháu H1 hiện đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Phùng Ngọc H. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Phùng Ngọc H.
- Về con chung: Anh Phùng Ngọc H và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là cháu Phùng Thu H1, sinh ngày 28/09/2003 và cháu Phùng Minh Q, sinh ngày 05/12/2007. Ly hôn, giao cháu Phùng Minh Q cho anh Phùng Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng (Ba triệu đồng)/tháng. Thời hạn cấp dưỡng kể từ tháng 05/2025 cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật thay thế. Cháu Phùng Thu H1 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét. Chị T được quyền đi lại, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
- Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác nếu các bên có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0079525 ngày 06/05/2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Chị Nguyễn Thị T phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Anh Phùng Ngọc H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 156/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 156/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Phùng Ngọc H
