Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/6/2025

V/v Tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sâm
  • - Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Ông Huỳnh Văn Dũng
    2. Ông Trần Văn Nhu
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Luông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Cẩm – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 109/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/5/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoàng Kim P, sinh năm 1988 (xin vắng mặt).
    Địa chỉ: Số 523A, tổ 28, khu phố 2, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
  2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn K, sinh năm 1981 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số E, tổ B, khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 19/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng Kim P trình bày:

Do quen biết nên chị và anh K xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Chị và anh K sống hạnh phúc đến tháng 7/2023 thì phát sinh mâu thuẫn ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh K có tiền là đánh bạc, lô đề, không chăm lo cho vợ con và khi ra bên ngoài phát ngôn những lời lẽ xúc phạm danh dự chị. Từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn.

  • - Về con chung: Có 01 con chung tên là Huỳnh Minh T, sinh ngày 18/10/2011. Hiện nay con chung đang sống với chị.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị cầu được ly hôn với anh K, yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Anh Huỳnh Văn K vắng mặt.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên toà: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Hoàng Kim P cho chị ly hôn anh K, giao con chung là cháu Huỳnh Minh T cho chị P nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim P1 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc hôn nhân của chị với anh Huỳnh Văn K có địa chỉ tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Chị P1 có đơn xin vắng mặt. Đối với anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì về việc vắng mặt của anh do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị P1 và anh K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị P1 và anh K xác lập quan hệ vợ chồng năm 2009 có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, hiện tại cuộc sống hôn nhân của chị P1 và anh K không còn hạnh phúc. Theo đơn khởi kiện chị P1 trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do anh K có tiền là đánh bạc, lô đề, không chăm lo cho vợ con và khi ra bên ngoài phát ngôn những lời lẽ xúc phạm danh dự chị. Từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án chị P1 cương quyết xin ly hôn, anh K vắng mặt không rõ lý do và cũng không có nguyện vọng đoàn tụ điều đó khẳng định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P1 là cho chị P1 được ly hôn với anh K là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh, chị có 01 con chung tên là Huỳnh Minh T, sinh ngày 18/10/2011. Chị P1 yêu cầu được quyền nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, anh chị có 01 con chung chưa thành niên, từ khi anh, chị sống ly thân cháu T sống với chị P1. Còn anh K không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên tiếp tục giao con chung cho chị P1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Về việc cấp dưỡng nuôi con do chị P1 không có yêu cầu nên không cần đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị P1 phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Vì ếc lẽ trn,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1, khoản 5, Điều 28; Điểm a, khoản 1 Điều 35; Điểm a, khoản 1, Điều 39; Khoản 4, Điều 147; Điều 273, Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ vào Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hoàng Kim P.

    Cho chị Nguyễn Hoàng Kim P được ly hôn với anh Huỳnh Văn K.

  2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên là Huỳnh Minh T, sinh ngày 18/10/2011 cho chị P nuôi dưỡng. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị P không có yêu cầu.

    Anh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định pháp luật.

  3. Về án phí:

    Chị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0016616, ngày 05/3/2025 của Cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên coi như đã nộp xong.

  4. Về quyền kháng cáo: Chị P và anh K được quyền được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án, để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm vụ án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN VĂN SÂM

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp “ly hôn, nuôi con”

  • Số bản án: 156/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho chị P được ly hôn K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger