Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 156/2025/DSST

Ngày: 28/11/2025.

V/v tranh chấp hợp đồng

đặt cọc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH AN GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phước Tỷ

Ông Võ Minh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Huyền Giao - Thư ký Tòa án nhân dân Khu

vực 6, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang tham gia

phiên toà: Ông Phạm Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2025/TLST-DS, ngày 28 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2025/QĐST-DS, ngày 31 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ông Trịnh Minh Đ, sinh năm 1959.

Địa chỉ: L - C, khu dân cư A, phường R, tỉnh An Giang. (ông Đ - có mặt)

2/ Bị đơn: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1983.

Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1989.

Cùng địa chỉ HKTT: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang.

Cùng địa chỉ tạm trú: 839/50 đường N, phường R, tỉnh An Giang. (ông C – có mặt, bà L – vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 7 năm 2024 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ (sau đây gọi tắt là ông Đ) trình bày:

Vào ngày 22/06/2023 ông Đ cùng môi giới bất động sản đến xem căn nhà số A N, khu phố A, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang của bà Nguyễn Thị Mỹ L (sau đây gọi tắt là bà L) với giá là 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng), bên bán yêu cầu bên mua phải làm hợp đồng đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 23/06/2023 nhưng đến 5h chiều cùng ngày, bên bán buộc ông Đ đồng ý mua nhà là phải đặt cọc ngay vì gấp lấy tiền để trả nợ vật tư. Sau khi giao tiền đặt cọc 50.000.000 đồng qua ngày 23/6/2023 bà L yêu cầu ông Đ đặt cọc thêm 50.000.000 đồng nhưng ông Đ không đồng ý, ông Đ mới biết được chủ nhà đã nhận cọc của một số người trước đó nên ông có trình báo lãnh đạo Công an phường A và làm đơn yêu cầu Ban lãnh đạo khu phố 1 để yêu cầu trả tiền cọc lại. Ngày 10/07/2023 bà L trả cho ông Đ số tiền 35.000.000 đồng, còn 15.000.000 đồng cam kết trong thời gian 30 ngày sẽ hoàn trả dứt điểm nhưng đến nay bà L vẫn chưa trả lại cho ông Đ số tiền thiếu còn lại là 15.000.000 đồng.

Nay ông Đ yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ L trả cho ông Đ số tiền còn thiếu là 15.000.000 đồng.

2/ Theo Bị đơn ông Ngô Văn C (sau đây gọi tắt là ông C) trình bày:

Vợ chồng ông C và bà L có nhận tiền cọc 50.000.000 đồng từ ông Đ do bà L chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là căn nhà số A N, khu phố A, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cho ông Đ. Nhưng chưa làm hợp đồng chuyển nhượng thì ông Đ không đồng ý chuyển nhượng nữa mà đòi lại tiền cọc 50.000.000 đồng. Bà L đã trả cho ông Đ 35.500.000 đồng, còn lại 14.500.000 đồng ông C không đồng ý trả vì chưa đến ngày hẹn ký kết hợp đồng chuyển nhượng mà ông Đ đòi tiền cọc và cũng không có việc bà L nhận tiền cọc nhà từ người khác ngoài ông Đ . Vì vậy ông Đ đã vi phạm hợp đồng thoả thuận, ông C không đồng ý trả tiền cọc theo yêu cầu của ông Đ.

3/ Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/11/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Bà L thừa nhận ngày 22/6/2023 bà L có thoả thuận chuyển nhượng cho ông Đ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là căn nhà số A N, khu phố A, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và có nhận tiền cọc là 50.000.000 đồng từ ông Đ. Bà L đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà L đồng ý trả cho ông Đ số tiền đặt cọc còn lại là 15.000.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng là 1.000.000 đồng.

4. Những tài liệu chứng cứ các đương sự cung cấp và Tòa án tiến hành thu thập như sau: Biên bản hoà giải đề ngày 28/6/2023 tại Khu phố A; Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 22/6/2023; Biên bản thoả thuận việc trả nợ đề ngày 18/9/2023.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn ông Đ yêu cầu bà L trả số tiền mà ông Đ đã đặt cọc còn lại là 15.000.000 đồng, ông Đ rút yêu cầu khởi kiện đối với ông C.

- Bị đơn ông Ngô Văn C không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ do ông Đ có lỗi không thực hiện ký kết hợp đồng.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX, buộc bà L trả cho ông Đ số tiền cọc còn lại là 15.000.000 đồng, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu rút đơn yêu cầu khởi kiện của ông Đ đối với ông C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Bị đơn không có yêu cầu phản tố. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Mỹ L.

[2] Tại phiên toà ông Đ rút đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn ông Ngô Văn C, không buộc ông C liên đới cùng trả tiền với bà L, việc ông Đ rút đơn khởi kiện đối với ông C là hoàn toàn tự nguyện và HĐXX đã tiến hành giải thích hậu quả pháp lý của việc ông Đ rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông C không có yêu cầu phản tố căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn ông Ngô Văn C.

[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đ yêu cầu bà L trả số tiền cọc còn lại là 15.000.000 đồng mà ông Đ đã đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất địa chỉ số A N, khu phố A, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang của bà L và ông C. Ông Đ cung cấp cho Toà án Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 22/6/2023 giữa ông Đ và bà L, theo thoả thuận ngày 22/6/2023 ông Đ đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng, từ ngày 22/6/2023 đến ngày 21/7/2023 hai bên tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất tại phòng công chứng sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng ông Đ thanh toán cho bà L số tiền 1.150.000.000 đồng, các bên thực hiện đặt cọc để thực hiện việc ký kết hợp đồng theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự nhưng đến ngày 27/6/2023 ông Đ gửi đơn yêu cầu bà L trả số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng với lý do trước khi nhận tiền đặt cọc từ ông Đ thì bà L đã nhận đặt cọc từ người khác rồi (BL98).

Tại Biên bản hoà giải đề ngày 28/6/2023 của Khu phố A, phường A bà L thừa nhận có nhận tiền cọc của người khác trước khi nhận tiền cọc của ông Đ sau khi nhận tiền chuyển nhượng của ông Đ sẽ bồi thường tiền cọc gấp đôi cho người nhận cọc, bà L trình bày phù hợp với lý do ông Đ không đồng ý giao dịch chuyển nhượng nữa đồng thời tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bà L và ông C chưa đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại biên bản hoà giải ở cơ sở bà L đồng ý trả tiền đặt cọc cho ông Đ là 50.000.000 đồng vào ngày 10/7/2023. Đến ngày thoả thuận trả tiền cọc ngày 10/7/2023 bà L đã trả cho ông Đ 35.000.000 đồng. Tại Biên bản thoả thuận việc trả nợ đề ngày 18/9/2023 bà L đồng ý trả cho ông Đ số tiền cọc còn lại là 15.000.000 đồng, phương thức trả làm 02 lần bà L hẹn đến ngày 05/10/2023 bà L trả cho ông Đ 10.000.000 đồng, còn 5.000.000 đồng sẽ trả trong thời hạn không quá 30 ngày nhưng đến nay bà L chưa thực hiện việc thanh toán cho ông Đ. HĐXX xác định ngày 28/6/2023 ông Đ và bà L đã thoả thuận việc chấm dứt giao dịch chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất đối với căn nhà số A N, khu phố A, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang đồng thời bà L đồng ý trả số tiền mà ông Đ đã đặt cọc là 50.000.000 đồng. Việc thoả thuận giữa ông Đ và bà L là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 422 Bộ luật dân sự năm 2015, bà L không thực hiện việc trả số tiền 15.000.000 đồng theo thoả thuận nên ông Đ khởi kiện là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về lãi suất: Ông Đ đã nhận của bà L tổng số tiền là 35.500.000 đồng vào ngày 10/7/2025, ông Đ cho rằng bà L trả 500.000 đồng là tiền lãi chậm trả căn cứ biên bản thoả thuận ngày 18/9/2023 của Khu phố A, phường A là có việc bà L đồng ý trả tiền lãi cho ông Đ là 500.000 đồng nên việc ông Đ trình bày là có cơ sở. Việc bên có nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận mà không thực hiện thì phải chịu lãi suất theo quy định pháp luật là phù hợp. Ông Đ không yêu cầu tính lãi suất thêm nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí là 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng.

Ông Trịnh Minh Đ có đơn xin miễn tạm ứng án phí do là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, 244, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 328, 422, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Minh Đ về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L.

Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L trả cho ông Trịnh Minh Đ số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

3/ Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.


Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh.
  • - Thi hành án DS tỉnh;
  • - Viện kiểm sát ND cùng cấp.
  • - Phòng THA Dân sự khu vực 6.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ





5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2025/DSST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 156/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa ông Đông và bà Linh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger