Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2025/DS-PT

Ngày 12 - 3 - 2025

V/v Tranh chấp chia thừa kế, chia tài sản

chung và hủy giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất.

—————————

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình
Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 804/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế, chia tài sản chung và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Đào Văn T, sinh năm 1963. (có mặt)
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Bị đơn:
  • 1/. Bà Đào Thị N, sinh năm 1964. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
  • 2/. Bà Đào Thị B, sinh năm 1962 (chết năm 2022).
  • Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn Đào Thị B:
  • 2.1/. Lê Phát H, sinh năm 1962. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • 2.2/. Lê Phát Đ, sinh năm 1993. (vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 1/. Bà Đào Thị L, sinh năm 1954.
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 2/. Ông Đào Văn S, sinh năm 1960.
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 3/. Bà Đào Thị X, sinh năm 1961. (có mặt)
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 4/. Bà Đào Thị B1, sinh năm 1940.
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 5/. Cụ Huỳnh Thị T1, sinh năm 1940.
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Người đại diện theo ủy quyền của cụ T1: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N1, sinh năm 1988. (có mặt)
  • Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 6/. Ông Đào Văn T2, sinh năm 1972. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 7/. Ông Đào Văn T3, sinh năm 1977.
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 8/. Ông Đào Văn C, sinh năm 1982. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 9/. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Địa chỉ: ấp C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn Bé H1 - Chủ tịch. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • 10/. Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện C, tỉnh Tiền Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: ấp C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 11/. Bà Lê Thị Bạch T4, sinh năm 1969. (có mặt)
  • 12/. Đào Lê Ngọc T5, sinh năm 1999.
  • Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Người kháng cáo: Ông Đào Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Đào Văn T trình bày:

Cha của ông là Đào Văn N2 (sinh năm 1928, chết năm 2015) có 03 đời vợ gồm:

  • Vợ thứ nhất là bà Lê Thị B2 đã chết năm 1954 và có con là Đào Thị B1;
  • Vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị T6 chung sống có 06 người con là gồm: Đào Thị L, Đào Văn S, Đào Thị X, Đào Thị B, Đào Thị N và Đào Văn T;
  • Vợ thứ 3 là Huỳnh Thị T1 có 03 người con là Đào Văn T2, Đào Văn T3 và Đào Văn C.

Khi cha ông còn sống có tạo lập nhiều đất đai gồm: Phần đất ruộng diện tích 7.205m² tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang và phần đất 1.990m² cùng căn nhà thờ cất trên đất tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Các phần đất này cha ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần đất ruộng cha ông chia cho bà N 1.000m², cụ T1 1.000m², ông S 2.000m² và cho ông T 3.000m². Sau đó, bà N và cụ T1 trả lại cho cha ông nên cha ông giao lại cho ông quản lý và sử dụng.

Phần đất ở có nhà cha chia cho ông S 605m², bà B 400m² (cha cho 5m ngang và mua 5m ngang), phần còn lại thì ông T và cha ông quản lý sử dụng. Ngoài ra, cha ông còn được ông nội và bác 6 của ông tặng cho phần đất khoảng 600m² và phần này cha ông cho lại cụ Huỳnh Thị T1 và các con cụ T1 quản lý, sử dụng cất nhà ở cho đến nay.

Vào năm 1997, cha ông có ý định chia đất cho các con nên cùng vợ ông đến Ủy ban nhân dân xã T hỏi thủ tục thì được Ủy ban nhân dân xã H2 và lập Tờ di chúc lập ngày 20/01/1997 có Ủy ban nhân dân xã chứng thực. Theo nội dung di chúc chia đất cho ông T và anh của ông là Đào Văn S: Chia cho Đào Văn S 500m² đất thổ cư và 02 công đất ruộng, chia cho Đào Văn T 01 căn nhà và đất thổ cư còn lại là 1.490m² và 5.205m² đất ruộng và tất cả các vật dụng trong nhà, ông T đã được cha sang tên tặng cho lúc cha còn sống.

Sau khi ba qua đời thì phần diện tích thổ cư 1.490m² mà ông T được chia trong di chúc chỉ còn lại 700m² (thuộc một phần thửa 1153, tờ bản đồ số 02) do lúc cha ông còn sống đã cắt một phần chia cho bà Đào Thị B.

Nay nguyên đơn ông Đào Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu được hưởng thừa kế đối với di sản của ông Đào Văn N2 chết để lại là toàn bộ phần diện tích đất 700m² thuộc một phần của thửa số 1153, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Phần đất ông yêu cầu được hưởng có giá trị khoảng 50.000.000 đồng. Ông T yêu cầu được nhận bằng hiện vật.

Bị đơn Đào Thị B trình bày:

Bà B thống nhất với lời trình bày của ông T về nhân thân, thời gian chết và tài sản của cha bà. Vào năm 2005 do nhà cũ của bà bị thu hồi đât nên bà không có nhà ở, cha bà có hứa cho bà phần đất ngang 10m cất nhà ở nhưng sau đó ông T yêu cầu bà trả tiền phần đất này giá 40.000.000 đồng. Bà B đồng ý, sau đó bà trả cho T 35.000.000 đồng và xin 5.000.000 đồng để bà trả nợ cho người khác. Do đó, bà B xác định cha bà hứa cho đất cho bà nhưng chưa thực hiện. Cha bà bị bệnh tâm thần từ năm 1997 nên khi lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt, bà không công nhận di chúc này. Bà B yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất 700m² đang tranh chấp, phần bà B yêu cầu nhận hiện vật là phần đất có chiều ngang 5m, dài hết đất, bà đồng ý hoàn lại giá trị cho các đồng thừa kế khác.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/9/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đào Thị N trình bày:

Bà N thống nhất về quan hệ nhân thân và thời gian chết của ông Đào Văn N2. Đối với phần đất nhà thờ tranh chấp, khi còn sống cha bà có hứa miệng cho chị em ruột của bà, cho bà một phần đất ngang 4m dài hết đất để cất nhà ở vì lúc đó hoàn cảnh của bà khó khăn, bà chưa nhận đất. Khi bà chết thì vợ chồng anh bà là Đào Văn T có chỉ chỗ đất cho bà nhưng sau đó ông T không cho nữa và hứa cho 100.000.000 đồng cũng không cho. Sau đó do có hiểu lầm nên anh em không còn thuận thảo nên không còn qua lại với nhau. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T thì bà không đồng ý, bà N yêu cầu không công nhận di chúc, yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, phần bà N yêu cầu nhận giá trị.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn Đào Thị B, ông Lê Phát H trình bày: Ông là chồng của bà Đào Thị B. Hàng thừa kế thứ nhất của bà B gồm: ông Lê Phát H (chồng) và 03 người con là Lê Thị Bích V, Lê Phát T7 và Lê Phát Đ (BL 228). Đối với tranh chấp giữa ông Đào Văn T và bà Đào Thị N, ông và các con không có ý kiến. Trong trường hợp bà B được xem xét quyền lợi (hưởng thừa kế) thì gia đình ông sẽ cho lại phần tài sản được hưởng cho cụ Huỳnh Thị T1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị B1, bà Đào Thị L, bà Đào Thị X và ông Đào Văn S trình bày thống nhất:

Thống nhất lời trình bày của ông Đào Văn T. Ông bà đồng ý chia thừa kế theo di chúc của cha để lại. Năm 1997, cha ông bà chưa có bệnh. Sau đó mới bệnh tâm thần nhưng không nhớ thời gian cha có bệnh và được điều trị tại Bệnh viện T8 ở N nhưng đã được điều trị hết bệnh. Sau đó, cha bệnh lại và không còn biết gì hết. Nay, qua yêu cầu của nguyên đơn, ông bà đồng ý, nếu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật, ông bà để lại phần thừa kế của ông bà cho ông Đào Văn T.

Theo đơn khởi kiện ngày 21/11/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/12/2019, ngày 01/10/2020, ngày 22/01/2020, đơn xin rút một phần yêu cầu độc lập ngày 11/6/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cụ Huỳnh Thị T1 trình bày:

Bà và ông Đào Văn N2 chung sống vợ chồng từ năm 1970, không có đăng ký kết hôn nhưng theo quy định pháp luật là hôn nhân thực tế. Bà thống nhất về quan hệ nhân thân và thời gian chết của ông Đào Văn N2.

Ngày 06/12/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Huỳnh Thị T1 có đon khởi kiện yêu cầu độc lập, những nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết gồm:

  • Tuyên bố Tờ di chúc ngày 20/01/1997 có chữ ký của ông Đào Văn N2 và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T ngày 03/02/1997 là vô hiệu.
  • Yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất khoảng 700m² là di sản thừa kế của ông Đào Văn N2 chết để lại thuộc thửa số 1153, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01972 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/11/2001 cho ông Đào Văn N2.

Ngày 22/01/2021, cụ Huỳnh Thị T1 bổ sung yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Chia đôi tài sản chung vợ chồng của bà và ông Đào Văn N2 đối với diện tích 669,3m²; thuộc thửa đất số 1153 tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1972 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/11/2001 cho ông Đào Văn N2 đứng tên chủ sử dụng đất. Cụ T1 yêu cầu được nhận 334,65m², phần cụ N2 là 334,65m². Phần diện tích cụ N2 được chia, bà yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật: Bà yêu cầu được nhận 33,4m² đất, nhận hiện vật. Chia đôi tài sản chung vợ chồng của bà và ông Đào Văn N2 đối với diện tích đất 5.746,3m² gồm thửa đất số 1545 diện tích 3.334m², thửa số 1549 diện tích 1.038m², thửa số 1551 diện tích 1.374,3m² cùng thuộc tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Cụ T1 yêu cầu được nhận diện tích khoảng 2.873,1m², phần cụ N2 khoảng 2.873,1m². Phần diện tích cụ N2 được nhận, bà yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, bà yêu cầu nhận 287,3m² đất, nhận hiện vật. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02594/QSDĐ/1886/QĐUBH ngày 13/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Đào Văn T đối với các thửa đất số 1545 diện tích 3.334m²; Thửa số 1549 diện tích 1.038m², thửa số 1551 diện tích 1.374,3m² cùng thuộc tờ bản đồ số 01 đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Căn cứ các Điều 649, Điều 650, 652, 653, 655, điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 1995;

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 688, Điều 612, Điều 614, 623, 649, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 33, 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23/02/2021và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA ngày 12/3/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

  1. 1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Văn T về việc chia thừa kế theo di chúc ngày 20/01/1997 của cụ Đào Văn N2 cho ông Đào Văn T đối với phần di sản của cụ Đào Văn N2 chết để lại.
  2. Chia cho ông Đào Văn T nhận bằng giá trị diện tích 334,65m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1972 ngày 02/11/2001 cho cá nhân ông Đào Văn N2 với số tiền 836.625.000 đồng.

  3. 2/. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Huỳnh Thị T1.
  4. Chia tài sản chung của cụ Huỳnh Thị T1 trong khối tài sản chung của vợ chồng với ông Đào Văn N2:

    • Diện tích 334,65m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1972 ngày 02/11/2001 cho cá nhân ông Đào Văn N2.

    Cụ Huỳnh Thị T1 được nhận bằng hiện vật toàn bộ diện tích 669,3m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1972 ngày 02/11/2001 cho cá nhân ông Đào Văn N2.

    Cụ T1 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Đào Văn T giá trị 334,65m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT với số tiền 836.625.000 đồng; giá trị tường rào 10.395.630 đồng, hàng rào 7.131.240 đồng, tổng cộng 854.151.870 đồng. Cụ T1 được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ diện tích 669,3m² đất và công trình tường rào, cổng rào tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    Ông Đào Văn T có nghĩa vụ di dời toàn bộ 140 gốc mai vàng giao trả cho cụ T1 toàn bộ diện tích 669,3m² đất và công trình tường rào, cổng rào tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT (có sơ đồ đo đạc kèm theo).

    • Chia cho cụ Huỳnh Thị T1 nhận bằng giá trị diện tích 1.663,05m² tại thửa 1545, diện tích 524,15m² tại thửa 1549, tờ bản đồ số 01 theo 02594/QSDD/1886/QDUBH ngày 13/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Đào Văn T với số tiền 984.240.000 đồng.

    Ông Đào Văn T được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ hai thửa đất thửa 1545 diện tích 3.334,0m² diện tích đo đạc thực tế ngày 24/5/2021 là 3.326,1m²; thửa 1549 diện tích 1.038,0m² diện tích đo đạc thực tế ngày 24/5/2021 là 1.048,3m² tờ bản đồ số 01 theo 02594/QSDĐ/1886/QĐUBH ngày 13/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Đào Văn T.

    Ông Đào Văn T hoàn lại cho cụ Huỳnh Thị T1 giá trị diện tích 1.663,05m² tại thửa 1545, diện tích 524,15m² tại thửa 1549 với số tiền 984.240.000 đồng.

    Cụ Huỳnh Thị T1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quyết định trong bản án.

    Khấu trừ nghĩa vụ giữa ông T và cụ T1: Ông T có nghĩa vụ hoàn lại cho cụ T1 số tiền 984.240.000 đồng, cụ T1 có nghĩa vụ hoàn lại ông T số tiền 854.151.870 đồng. Do đó, ông T có nghĩa vụ hoàn lại cho cụ T1 số tiền 130.088.130 đồng (984.240.000 đồng - 854.151.870 đồng = 130.088.130 đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án phần tiền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh chậm trả tiền do các bên không có thỏa thuận nên thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. 3/. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đào Văn T2, ông Đào Văn T3, ông Đào Văn C yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất khoảng 700m² là di sản thừa kế của ông Đào Văn N2 chết để lại thuộc thửa số 1153, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01972 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/11/2001 cho ông Đào Văn N2 đứng tên chủ sử dụng đất thành 10 kỷ phần thừa kế, ông T3, ông T2, ông C yêu cầu được nhận mỗi người 01 kỷ phần là khoảng 70m², xin nhận bằng hiện vật.
  6. 4/. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị T1 không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng đối với thửa đất số 1551, diện tích 1.374,m² tọa lạc tại ấp T, huyện C.
  7. Cụ Huỳnh Thị T1 được quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu đình chỉ theo quy định tại Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22/8/2024, nguyên đơn ông Đào Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đào Văn T trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Đào Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Đào Văn T làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các bên đương sự trong vụ án thống nhất xác định cụ Đào Văn N2 có chung sống với ba người vợ gồm Lê Thị B2, Nguyễn Thị T6 và Huỳnh Thị T1. Cụ N2 chung sống với cụ Lê Thị B2 trước ngày 03/01/1987, không đăng ký kết hôn, đến năm 1954 cụ B2 chết, hôn nhân giữa cụ N2 và cụ B2 chấm dứt. Sau đó cụ N2 chung sống với cụ T6 cũng trước ngày 03/01/1987, không đăng ký kết hôn, đến năm 1967 cụ T6 chết, hôn nhân giữa cụ N2 và cụ T6 chấm dứt. Đến năm 1970, cụ N2 chung sống với cụ Huỳnh Thị T1, trước ngày 03/01/1987 không đăng ký kết hôn, chung sống đến khi cụ N2 mất vào năm 2015.

Xét hôn nhân giữa cụ N2 và cụ T1 chung trước ngày 03/01/1987 không đăng ký kết hôn và vẫn tiếp tục chung sống đến khi cụ N2 chết, chưa có bản án quyết định nào giải quyết ly hôn giữa cụ N2 với cụ T1. Thời điểm cụ N2, cụ T1 chung sống thì hôn nhân thực tế giữa cụ N2 và cụ T1 với người vợ/chồng trước đã chấm dứt. Vì vậy, hôn nhân giữa cụ N2 với cụ T1 là hôn nhân hợp pháp theo đúng quy định và tinh thần của Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23/02/2021 và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA ngày 12/3/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[2.2] Tài sản các bên đương sự tranh chấp hiện nay gồm: Diện tích đất 669,3m², thuộc thửa đất số 1153 tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; hiện do cụ Đào Văn N2 đứng tên. Thửa đất số 1545 diện tích 3.334m² và thửa số 1549 diện tích 1.038m² cùng thuộc tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; hiện do ông Đào Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo ông Đào Văn T thì tài sản tranh chấp có nguồn gốc của ông bà nội của cụ N2 đã để lại cho cụ N2 sử dụng từ trước năm 1975, là tài sản riêng của cụ N2 và hiện cụ N2 đã di chúc lại cho ông T. Trong khi đó, cụ Huỳnh Thị T1 xác định tài sản trên có nguồn gốc của ông bà cho vợ chồng cụ T1, cụ N2 canh tác sử dụng, là tài sản chung của vợ chồng cụ T1 nên đề nghị chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

[2.3] Các bên đương sự đều thống nhất là có nguồn gốc từ ông bà để lại cho cụ N2. Sau khi có chủ trương của Chính phủ người sử dụng đất thực hiện đăng ký kê khai theo chỉ thị 299 thì cụ N2 là người đã đăng ký trong sổ mục kê ruộng đất. Thời điểm này, cụ N2 đang chung sống vợ chồng với cụ T1, có hôn nhân thực tế và được công nhận như đã phân tích tại mục [2.1]. Căn cứ quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 “vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đôi với tài sản có trước và sau khi cưới” thì thửa đất 1153, 1545, 1549 được xác định là tài sản chung của cụ N2 và cụ T1 trong thời kỳ hôn nhân.

Xét di chúc của cụ N2 lập vào ngày 20/01/1997 để lại toàn bộ phần đất tranh chấp cho ông Đào Văn T, có chứng thực Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 03/02/1997 đảm bảo về hình thức, hợp pháp theo quy định tại Điều 655 Bộ luật Dân sự năm 1995. Tuy nhiên khi lập di chúc cụ N2 đã định đoạt toàn bộ tài sản tại các thửa đất 1153, 1545, 1549, trong đó bao gồm cả phần tài sản thuộc sở hữu của cụ T1 là vượt quá phạm vi định đoạt của mình. Do đó, di chúc ngày 20/01/1997 chỉ có hiệu lực ½ đối phần tài sản của cụ N2.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, một phần yêu cầu độc lập của cụ T1; chia cho ông T được hưởng di sản do cụ N2 để lại theo di chúc lập ngày 20/01/1997, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cho cụ T1, mỗi bên được nhận một phần tương ứng ½ quyền sử dụng đất tại các thửa 1153, 1545, 1549; đồng thời xem xét cho ông T công sức quản lý, giữ gìn tài sản bằng 10% giá trị quyền sử dụng đất thửa 1545, 1549 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đã đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông T.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Đào Văn T; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đào Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Văn T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Áp dụng: Điều 649, Điều 650, 652, 653, 655, điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 1995; điểm a Khoản 1 Điều 688, Điều 612, Điều 614, 623, 649, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 33, 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23/02/2021và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA ngày 12/3/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

  1. 1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Văn T về việc chia thừa kế theo di chúc ngày 20/01/1997 của cụ Đào Văn N2 cho ông Đào Văn T đối với phần di sản của cụ Đào Văn N2 chết để lại.
  2. Chia cho ông Đào Văn T nhận bằng giá trị diện tích 334,65m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1972 ngày 02/11/2001 cho cá nhân ông Đào Văn N2 với số tiền 836.625.000 đồng.

  3. 2/. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Huỳnh Thị T1.
  4. Chia tài sản chung của cụ Huỳnh Thị T1 trong khối tài sản chung của vợ chồng với ông Đào Văn N2:

    • Diện tích 334,65m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1972 ngày 02/11/2001 cho cá nhân ông Đào Văn N2.

    Cụ Huỳnh Thị T1 được nhận bằng hiện vật toàn bộ diện tích 669,3m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1972 ngày 02/11/2001 cho cá nhân ông Đào Văn N2.

    Cụ T1 có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Đào Văn T giá trị 334,65m² đất tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT với số tiền 836.625.000 đồng; giá trị tường rào 10.395.630 đồng, hàng rào 7.131.240 đồng, tổng cộng 854.151.870 đồng. Cụ T1 được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ diện tích 669,3m² đất và công trình tường rào, cổng rào tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT tọa lạc: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    Ông Đào Văn T có nghĩa vụ di dời toàn bộ 140 gốc mai vàng giao trả cho cụ T1 toàn bộ diện tích 669,3m² đất và công trình tường rào, cổng rào tại thửa 1153 tờ bản đồ số 02 loại đất CLN+ONT (có sơ đồ đo đạc kèm theo).

    • Chia cho cụ Huỳnh Thị T1 nhận bằng giá trị diện tích 1.663,05m² tại thửa 1545, diện tích 524,15m² tại thửa 1549, tờ bản đồ số 01 theo 02594/QSDD/1886/QDUBH ngày 13/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Đào Văn T với số tiền 984.240.000 đồng.

    Ông Đào Văn T được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ hai thửa đất thửa 1545 diện tích 3.334,0m² diện tích đo đạc thực tế ngày 24/5/2021 là 3.326,1m²; thửa 1549 diện tích 1.038,0m² diện tích đo đạc thực tế ngày 24/5/2021 là 1.048,3m² tờ bản đồ số 01 theo 02594/QSDĐ/1886/QĐUBH ngày 13/12/2001 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ ông Đào Văn T.

    Ông Đào Văn T hoàn lại cho cụ Huỳnh Thị T1 giá trị diện tích 1.663,05m² tại thửa 1545, diện tích 524,15m² tại thửa 1549 với số tiền 984.240.000 đồng.

    Cụ Huỳnh Thị T1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quyết định trong bản án.

    Khấu trừ nghĩa vụ giữa ông T và cụ T1: Ông T có nghĩa vụ hoàn lại cho cụ T1 số tiền 984.240.000 đồng, cụ T1 có nghĩa vụ hoàn lại ông T số tiền 854.151.870 đồng. Do đó, ông T có nghĩa vụ hoàn lại cho cụ T1 số tiền 130.088.130 đồng (984.240.000 đồng - 854.151.870 đồng = 130.088.130 đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án phần tiền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh chậm trả tiền do các bên không có thỏa thuận nên thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. 3/. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đào Văn T2, ông Đào Văn T3, ông Đào Văn C yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất khoảng 700m² là di sản thừa kế của ông Đào Văn N2 chết để lại thuộc thửa số 1153, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01972 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/11/2001 cho ông Đào Văn N2 đứng tên chủ sử dụng đất thành 10 kỷ phần thừa kế, ông T3, ông T2, ông C yêu cầu được nhận mỗi người 01 kỷ phần là khoảng 70m², xin nhận bằng hiện vật.
  6. 4/. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị T1 không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng đối với thửa đất số 1551, diện tích 1.374,m² tọa lạc tại ấp T, huyện C.
  7. Cụ Huỳnh Thị T1 được quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu đình chỉ theo quy định tại Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.

  8. 5/. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sơ thẩm được thực hiện theo quyết định của bản án sơ thẩm.
  9. 6/. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào Văn T được miễn.
  10. 7/. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  11. 8/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Tiền Giang;
  • - Đương sự (14);
  • - Lưu VP(5), HS(2).26b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia thừa kế, chia tài sản chung và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 156/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế, chia tài sản chung và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Văn T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger