Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 156/2024/HS-ST

Ngày: 30-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

  • Bà Trần Nguyệt Mai
  • Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dần– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Quang T (tên gọi khác: Cu B), sinh năm 1982 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: NamNơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 C, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (đã xóa hộ khẩu); Chỗ ở: Không nơi ở nhất định Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần T1; con bà: Võ Thị C; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 28/3/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ngày 11/8/2014 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 01 (một) tháng 21 (hai mươi một) ngày tù; Ngày 22/12/2015 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt chung là 08 (tám) năm tù, bị cáo kháng cáo, đến ngày 29/3/2016 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và hủy phần tổng hợp hình phạt; Ngày 04/01/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo kháng cáo và sau đó rút kháng cáo, ngày 12/4/2016 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; Tại Quyết định tổng hợp hình phạt số 04/THHP ngày 01/8/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tổng hợp hình phạt của các bản án buộc Trần Quang T phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù, đến ngày 02/10/2022 đã chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 23/4/1999 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 (năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đến ngày 16/5/1999 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Quang T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo kháng cáo, đến ngày 28/8/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, giữ nguyên y án sơ thẩm theo Bản án hình sự phúc thẩm số 288/2023/HS-PT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2023 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

  1. Ông Mai Tiến H, sinh năm 1958; Nơi cư trú: 3 L (số cũ A D), Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Phạm Phước T2, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Nhà không số, hẻm B, khu phố G, tổ A, đường H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Mai Nguyễn Chí T3, sinh năm 1993; Nơi cư trú: A T, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Bà Vũ Thị Thu H1, sinh năm; Nơi cư trú: C Lô D, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang T là đối tượng không nghề nghiệp ổn định. Do muốn có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định tiếp cận các tài xế xe ôm, lợi dụng lúc họ sơ hở sẽ trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, T đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận E, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 29/10/2022, Trần Quang T sử dụng số điện thoại 0334.752.xxx gọi điện cho ông Mai Tiến H đến đường H- C, Quận C để chở T về Quận E thì ông H đồng ý. Ông H điều khiển xe mô tô, hiệu Honda Future biển số: 59P3-303.59 đến điểm hẹn để đón T. Ông H chở T đến trước số D T, Phường G, Quận E thì T yêu cầu ông H dừng xe để T đi vào quán mua nước uống và đưa cho ông H 100.000 đồng nhờ ông H sang đường mua vịt quay. Lúc này, ông H để xe mô tô, biển số: 59P3-303.59 tại trước quán nhưng không khóa xe (chìa khóa vẫn còn trong ổ khóa) rồi đi bộ sang đường mua vịt quay. Lợi dụng lúc ông H đi mua vịt bên kia đường không để ý nên T lên xe mô tô biển số: 59P3-303.59 chạy đi, sau đó ông H phát hiện nên đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó, ông H đến Công an P, Quận E trình báo sự việc. Sau khi chiếm đoạt xe và tài sản của ông H, T bán chiếc xe trên cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 7.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Trần Quang T khai không biết có tài sản và các giấy tờ trong cốp xe, khi chiếm đoạt được xe thì bán chiếc xe cho người khác.

Ông Mai Tiến H trình bày: Chiếc xe Honda Future biển số 59P3-303.59 là do ông mua trả góp nhưng do con trai của ông tên Mai Nguyễn Chí T3 đứng tên đăng ký xe, ông H sử dụng làm phương tiện chạy xe chở khách, T đã kêu ông chở chi và do sơ hở nên Trần Quang T đã chiếm đoạt chiếc xe trên của ông, bên trong cốp xe có số tiền 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus dung lượng 256GB; 01 sổ hộ khẩu do bà Nguyễn Thị T4 đứng tên chủ hộ; 01 giấy tờ mua trả góp xe.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2022, Trần Quang T gọi điện kêu ông Phạm Phước T2 chở đi công việc ở quận B, sau đó về Quận E thì ông T2 đồng ý. Ông T2 điều khiển chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số: 58T2 - 545.80 chở T sang quận B, sau đó về Quận E. Khi ông T2 chở T đến trước số nhà G N, Phường A Quận E, T kêu ông T2 dừng xe và nhờ ông T2 vào quán ăn gần đó mua hủ tiếu để T mang về. Ông T2 để xe có cắm sẵn chìa khóa rồi xuống xe đi bộ ngược chiều vào quán ăn mua hủ tiếu giùm cho T. Lợi dụng lúc ông T2 không để ý. Tuệ lên xe mô tô Honda Wave màu đen biển số: 58T2 - 545.80 chạy đi, ông T2 mua hủ tiếu xong đi ra thì T đã điều khiển xe đi đâu không rõ. Sau đó, ông T2 đến Công an P1, Quận E trình báo sự việc. Sau khi chiếm đoạt xe của ông T2, T bán chiếc xe trên cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 5.000.000 đồng, số tiền trên, T đã tiêu xài cá nhân hết.

Ông Phạm Phước T2 trình bày: Chiếc xe Honda Wave màu đen biển số: 58T2 - 545.80 là của ông, do vợ ông tên Vũ Thị Thu H2 đứng tên đăng ký, ông T2 sử dụng làm nghề chạy xe ôm. Trần Quang T kêu ông chở đi công việc ở quận B, sau đó về Quận E. Khi ông T2 chở T đến trước số nhà G N, Phường A Quận E, T kêu ông T2 dừng xe và nhờ ông T2 vào quán ăn gần đó mua hủ tiếu để T mang về. Ông T2 để xe có cắm sẵn chìa khóa rồi xuống xe đi bộ ngược chiều vào quán ăn mua hủ tiếu giùm cho T. Lợi dụng lúc ông T2 không để ý. Tuệ lên xe mô tô Honda Wave màu đen biển số: 58T2 - 545.80 chạy đi, ông T2 mua hủ tiếu xong đi ra thì T đã điều khiển xe đi đâu không rõ. Sau đó, ông T2 đến Công an P1, Quận E trình báo sự việc.

Vật chứng vụ án: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Future FI, biển số: 59P3-303.59; 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số: 59T2 - 545.80; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus -256GB; số tiền 3.000.000 đồng. Tất cả vật chứng trên đều không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E, kết luận: Xe gắn máy hiệu Honda Future FI, biển số: 59P3-303.59 đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 85% có trị giá 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 13/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus -256GB, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 75% có trị giá 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E, kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số: 59T2 - 545.80, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 85% có trị giá 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Ông Mai Tiến H yêu cầu bị cáo Trần Quang T bồi thường các tài sản đã bị chiếm đoạt với tổng giá trị là 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Ông Phạm Phước T2 yêu cầu bị cáo Trần Quang T bồi thường tài sản đã bị chiếm đoạt trị giá 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 156/CT-VKSQ5 ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Quang T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Quang T với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Trần Quang T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (đã được xét xử phúc thẩm theo Bản án hình sự phúc thẩm số 288/2023/HS-PT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh); Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho các bị hại; về vật chứng không có thu hồi nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo Trần Quang T không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại như Cáo trạng đã truy tố và tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại.

Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Trần Quang T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của các bị hại, biên bản nhận dạng, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản đối chất và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Trần Quang T đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở của các bị hại rồi chiếm đoạt tài sản, cụ thể bị cáo T đã thực hiện các vụ như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 29/10/2022, Trần Quang T đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future biển số: 59P3-303.59 tại trước nhà số D T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Mai Tiến H, bên trong cốp xe có số tiền 3.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus dung lượng 256GB và các giấy tờ khác gồm 01 sổ hộ khẩu do bà Nguyễn Thị T4 đứng tên chủ hộ; 01 giấy tờ mua trả góp xe gắn máy. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E, kết luận: Xe gắn máy hiệu Honda Future FI, biển số: 59P3-303.59 trị giá 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus -256GB trị giá 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã chiếm đoạt của ông Mai Tiến H là 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Ngày 15/12/2022, Trần Quang T đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave màu đen biển số: 58T2 - 545.80 tại trước số nhà G N, Phường A Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Phạm Phước T2. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E, kết luận: Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha, biển số: 59T2 - 545.80 trị giá 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng).

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T đã chiếm đoạt của ông Mai Tiến H và ông Phạm Phước T2 là 42.500.000 đồng (bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Trần Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và có sự chuẩn bị trước, bị cáo đã chủ động làm quen với các bị hại là những người chạy xe gắn máy chở khách và kêu họ chở bị cáo đi công việc, sau đó bị cáo giả vờ nhờ các bị hại mua đồ giùm nhằm để bị hại có sự sơ hở trong quản lý tài sản rồi bị cáo có điều kiện thuận lợi lén lút chiếm đoạt tài sản.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo có tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu nhưng bị cáo không biết sửa đổi, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” được quy định tài điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội. Đồng thời xem xét tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Trần Quang T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do bị cáo có kháng cáo nên đã được xét xử theo trình tự phúc thẩm tại Bản án hình sự phúc thẩm số 288/2023/HS-PT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Trần Quang T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Việc tổng hợp hình phạt của các bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[8] Đối với đối tượng mua lại 02 chiếc xe gắn máy mà bị cáo T đã chiếm đoạt của ông H và ông T2, hiện chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Ông Mai Tiến H yêu cầu bị cáo Trần Quang T bồi thường các tài sản đã bị chiếm đoạt với tổng giá trị là 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Ông Phạm Phước T2 yêu cầu bị cáo Trần Quang T bồi thường tài sản đã bị chiếm đoạt trị giá 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng). Xét thấy tại phiên tòa bị cáo T tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Quang T 02 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Buộc bị cáo Trần Quang T phải chấp hành hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 08/6/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Trần Quang T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (do bị cáo có kháng cáo nên đã được xét xử theo trình tự phúc thẩm tại Bản án hình sự phúc thẩm số 288/2023/HS-PT ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Trần Quang T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”).

Tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án buộc bị cáo Trần Quang T phải chấp hành là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 01 năm 2023.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Trần Quang T bồi thường cho bị hại ông Mai Tiến H số tiền 28.500.000 đồng (hai mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Trần Quang T bồi thường cho bị hại ông Phạm Phước T2 số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và các bị hại ông Mai Tiến H, ông Phạm Phước T2 có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng trên số tiền mà bị cáo phải chịu bồi thường.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.425.000 đồng (hai triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an Tp.HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 156/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 156-Trần Quang T- Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger