|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 156/2024/HS-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.
Các hội thẩm nhân dân.
Ông Tòng Văn Loan
Ông Hoàng Ngọc Hùng
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Long Thành, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:
Trần Hữu L, sinh ngày 07 tháng 8 năm 1983 tại huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi ĐKNKTT: Bản Tra, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện nay: Bản C, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu L1 (đã chết), con bà Trần Thị Y (đã chết); Tiền án: Tại Bản án số 78/2021/HSST ngày 07/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích); Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 16/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 21 giờ 20 phút ngày 16/6/2024, tại khu vực N nằm giữa số nhà E và 555 trên đường T thuộc tổ B, phường Q, thành phố S, tổ công tác công an phường T phối hợp cùng Công an phường Q, công an thành phố S đã phát hiện, bắt quả tang Trần Hữu L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Hữu L khai nhận:
Trần Hữu L sử dụng ma tuý từ năm 2020. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/6/2024, L đi xe bus từ xã C, huyện S tỉnh Sơn La đến B tỉnh Sơn La. Tới 17 giờ 00 phút cùng ngày xe bus đến nơi, L xuống xe, đi chơi và ăn cơm tại khu vực gần Trường Đại học T1. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, L nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên đã đi bộ xung quanh khu vực gần trường Đại học T1 để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi L đi bộ đến khu vực vỉa hè trên đường T đối diện Nghĩa trang L2 thành phố S thì L gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi, dáng cao gầy, mặc quần áo màu đen, đeo khẩu trang màu trắng (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) có biểu hiện giống người sử dụng ma tuý nên L đặt vấn đề mua ma tuý với người này. Qua trao đổi, L hỏi mua được của người nam giới này 01 gói giấy có một mặt màu bạc, một mặt màu trắng, bên trong có chứa heroine với giá 500.000đ. Sau đó, người nam giới đó bỏ đi, còn L cầm gói ma tuý vừa mua trong long bàn tay phải rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực N nằm giữa số nhà E và 555 trên đường T thuộc tổ B, phường Q, thành phố S thì bị Tổ công tác phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy có một mặt màu bạc, một mặt màu vàng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng (Trần Hữu L khai là ma túy cất giữ để sử dụng).
Ngày 17/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Trần Hữu L, kết quả:
- - Chất cục bột màu trắng bị bắt khi thu giữ có khối lượng 0,24 gam; lấy 0,15 gam cho vào túi nilon màu trắng làm mẫu giám định ký hiệu T Còn lại 0,09 gam cho vào túi nilon màu trắng làm mẫu lưu kho ký hiệu L.
- Kết luận giám định số 1300/KL - KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận "Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,24 gam; loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định".
Tại bản Cáo trạng số 404/CT-VKSTP ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Trần Hữu L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu L khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nhất trí nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Hữu L từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Hữu L SN 1983 - Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/6/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu bạc; Mẫu lưu L = 0,09 gam", mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 084898có ghi “Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La hồi 08 giờ 20phút ngày 17/6/2024 tại CATP S”.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Vào ngày 16/6/2024, Trần Hữu L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 30 phút ngày 16/6/2024 tại tổ B, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Trần Hữu L.
- - Kết luận giám định số 1300/KL - KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận "Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,15gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,24 gam; loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định".
- - Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Trần Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- - Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Trần Hữu L với số lượng tàng trữ 0,24 gam heroine đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
- - Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015: tái phạm.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với nguồn gốc 0,24 gam Heroine bị thu giữ, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu bạc; Mẫu lưu L = 0,09 gam: xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- - Xử phạt bị cáo Trần Hữu L 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 16/6/2024).
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Trần Hữu L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Trần Hữu L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024).
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Hữu L SN 1983 - Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 16/6/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu bạc; Mẫu lưu L = 0,09 gam”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 084898có ghi “Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La hồi 08 giờ 20phút ngày 17/6/2024 tại CATP S”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Quỳnh Trang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Tòng Văn Loan |
Hoàng Ngọc Hùng |
Đào Thị Quỳnh Trang |
Bản án số 156/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 156/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 16/6/2024, Trần Hữu L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng
