|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2024/HS-PT Ngày: 09/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Ông Bùi Trọng Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 113/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Ngọc Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo kháng cáo:
Đặng Ngọc Đ; Sinh ngày: 12/10/1992; tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Minh H và bà Nguyễn Thị T (Đều còn sống); Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không
Bị bắt tạm giam ngày 30 tháng 8 năm 2023. Bị cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Ngọc Đ: Ông Đinh Xuân L - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ theo yêu cầu của bị cáo. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Lê Thị N và Đặng Ngọc Đ có mối quan hệ trong việc kinh doanh vé số, trong quá trình kinh doanh Điểm có nợ tiền bà N mà chưa có khả năng trả. Ngày 22/3/2023, lấy lý do cần tiền giải quyết công việc nên Đ có nhắn tin cho bà N nói hiện nay Đ có một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà nội chia cho, giờ cần tiền nên đưa cho bà N tìm người hỏi mượn 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) đến 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng). Điểm chụp hình và gửi hình ảnh của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N làm tin, bà N tin đó là tài sản thế chấp đảm bảo việc trả nợ của Đ nên bà N đồng ý cho Đ mượn tiền - Thực tế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật Đặng Ngọc Đ đã thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B) chi nhánh S theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/5939626/HĐĐB ngày 31/5/2022, đã được Văn Phòng C1 công chứng ngày 31/5/2022 và đăng ký thế chấp ngày 01/7/2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, thành phố Đà Nẵng. Bà N xem hình ảnh của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thấy có tên Đặng Văn C, đã chuyển nhượng cho bà Đặng Ngọc Đ nên tin đó là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật nên nhiều lần chuyển khoản, đưa tiền mặt cho bà Đ mượn. Trong đó, ngày 29/3/2023 bà N nhờ cháu tên là Đặng Thị Mỹ L1 cầm 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) qua nhà đưa cho Đ. Đến sáng ngày 30/3/2023, bà N nhờ L1 sang nhà gặp Đ để lấy 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BB 513232, thửa đất số 1645, tờ bản đồ số 16cn, do Ủy ban nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/4/2010 cho ông Đặng Văn C, đã chuyển nhượng cho bà Đặng Ngọc Đ (đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trước đó mà Đ đã chụp hình gửi cho bà N xem trước). Sau khi L1 đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng của Đ về cho bà N thì bà N dùng hình ảnh của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hỏi mượn tiền của người khác và chuyển khoản lại cho bà Đ mượn nhiều lần với tổng số tiền là 326.200.000đ (Ba trăm hai mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Khi biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà Đ đưa cho mình là giả thì bà N đã liên lạc lại cho Đ, Đ xác nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mình đưa cho bà N là giả . Bà N đã nhiều lần yêu cầu Đ phải trả lại số tiền 426.200.000đ (Bốn trăm hai mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng Đ không có khả năng trả nợ, vì vậy bà Lê Thị N đã làm đơn tố cáo Đặng Ngọc Đ đến Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng. Qua làm việc tại Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng Đặng Ngọc Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định số 598/KL-KTHS ngày 12/7/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BB513232 mang tên Đặng Văn C, ghi cấp ngày 13/4/2010 là giả.
Với nội dung trên: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Về hình phạt: Căn cứ Điểm a khoản 3 Điều 174; Điểm b khoản 3 Điều 341, các điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc Đ 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 (hai) tội buộc bị cáo Đặng N1 phải chấp hành là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/8/2023.
Ngoài ra, Bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 17/4/2024 bị cáo Đặng Ngọc Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Xin cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Đặng Ngọc Đ giữ nguyên đơn kháng cáo và bổ sung thêm nội dung kháng cáo đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét lại đối với tội danh “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, với lý do bị cáo cho rằng việc bị cáo sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả (do bà Nguyễn Thị Kim N2 là thiếm dâu bị cáo) đưa cho bị cáo để bị cáo sử dụng cầm cố, thế chấp là hành vi gian dối lừa đảo bà N để vay tiền sử dụng vào việc trả nợ tiền vé số cho đại lý cấp một thuộc các Công ty xổ số kiến thiết khu vực M, mà bị cáo là đại lý cấp hai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đặng Ngọc Đ thừa nhận có sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giả) do bà Nguyễn Thị Kim N2 (thiếm dâu bị cáo) đưa cho bị cáo để bị cáo sử dụng cầm cố, thế chấp vay tiền bà N để sử dụng vào việc trả nợ tiền vé số là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” để xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, đại diện VKS thấy rằng, bị cáo Đ biết rõ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bị cáo khai do bà Nguyễn Thị Kim N2 (thiếm dâu bị cáo) đưa cho bị cáo là (Giả), nhưng bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo, là dấu hiệu đặt trưng về mặc khách quan của tội Sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức được quy định tại Điều 341 BLHS. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của TAND huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo với hai tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình cũng như về nhân thân bị cáo qua đó xử phạt bị cáo 08 (tám) năm tù cho cả hai tội danh là dưới mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, để cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung là cần thiết, phù hợp với quy định của pháp luật, không nghiêm khắc. Mặc dù, tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị cáo có bổ sung một số tình tiết mới như tác động gia đình bồi thường thêm cho bị hại bà N số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), đơn xác nhận của UB Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam thành phố Đ về việc có thành tích tuổi trẻ thanh niên “Sống đẹp”, đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương sở tại xác nhận, tuy nhiên, những tình tiết mới này cũng không làm thay đổi về mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư Đinh Xuân L người bào chữa cho bị cáo có quan điểm luận cứ bào chữa như sau: Thống nhất về tội danh Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS, nên không có tranh luận về nội dung này; Tuy nhiên, về danh “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 BLHS là chưa có căn cứ vững chắt, bởi lẻ: Tại Văn bản số: 50/TANDTC-PC ngày 07/4/2020 và tại Mục 2 Công văn số 233/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn hành vi sử dụng giấy tờ tài liệu giả của cơ quan tổ chức (như sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ...) để chuyển nhượng, mua bán, cầm cố, thế chấp...nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu đặt trưng trong mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cũng là hành vi khách quan của tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, thì trường hợp người thực hiện một hành vi phạm tội nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn. Đối chiếu với hướng dẫn trên, thì bị cáo Đ có hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả (Giấy chứng nhận QSD đất giả) để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tiền của bà N đã bị xử lý về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 BLHS là tội nặng hơn; Do đó, Luật sư đề nghị HĐXX xem xét lại tội danh này cho bị cáo, để xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đối với tội danh này theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Đ đều khai nhận: Giữa bị cáo và bà Nguyễn Thị Kim N2 (có mối quan hệ thiếm cháu, bà N2 là vợ của chú ruột bị cáo), từ năm 2021 có làm ăn chung với nhau trong lĩnh vực kinh doanh vé số, trong thời gian làm ăn bà N2 có phát sinh nợ nần, và hứa hẹn nhiều lần thanh toán, nhưng không có thanh toán, đến cuối năm 2022 bà N2 không thừa nhận, vì nói bị cáo ghi khống số tiền và nói sai sự thật, nhưng do cần tiền để thanh toán tiền vé số cho công ty X, bị cáo có nói với bà N2 có thể mượn tiền người khác (nếu có sổ để thế chấp), Vì vậy, khoảng tháng 11/2022 bà (Nguyễn Thị Kim N2 là thiếm dâu) có đưa cho bị cáo 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BB 513232, thửa đất số 1645, tờ bản đồ số 16cn, do UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/4/2010 đứng tên ông Đặng Văn C (chú ruột), đã chuyển nhượng cho bị cáo với mục đích dùng thế chấp cho người khác để vay tiền, sau khi phát hiện sổ (giả) bị cáo có liên hệ bà N2 để nói chuyện, lúc đầu bà N2 né tránh, sau đó thừa nhận với bị cáo “Hết đường mới dùng đến cách đó”?, Do vậy, bị cáo có nhắn tin qua điện thoại cho thiếm N2 có nội dung “à với mượn dc sổ cô M ko thiếm N2? để đổi sổ kia ra để tránh bị phát hiện với đi hỏi dễ hơn”? bị cáo khai nội dung tin nhắn này được lưu giữ trong máy điện thoại di động hiệu oppo hiện nay do ba ruột bị cáo là ông Đặng Minh H đang cất giữ?.
[2] Theo lời khai của bị cáo, sau khi sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giả) do (bà Nguyễn Thị Kim N2 là thiếm dâu) đưa cho bị cáo, mặc dù bị cáo biết là (sổ đỏ) giả nhưng do cần tiền trả nợ, nên bị cáo sử dụng (sổ đỏ giả) này cầm cố, thế chấp cho bà Lê Thị N vay mượn nhiều lần với tổng số tiền 426.200.000đ (Bốn trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm ngàn đồng), số tiền vay mượn này bị cáo sử dụng vào việc thanh toán trả nợ hết cho Công ty X, (cụ thể thông qua giao dịch đại lý vé số cấp 01(một) do (bà Tuyết M1 làm chủ đại lý) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng, đưa tiền mặt có phiếu thu, dữ liệu này được lưu giữ trên máy tính của bị cáo, hiện nay gia đình bị cáo đang quản lý tại nhà? Vì vậy, bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi gian dối (sử dụng sổ đỏ giả) cầm cố, thế chấp nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của bà N sử dụng thanh toán tiền vé số là hành vi lừa đảo, nên việc các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện H, thành phố Đà Nẵng khởi tố, điều tra, truy tố xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS là đúng pháp luật. Riêng đối với tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” bị cáo thống nhất với luận cứ của luật sư người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, do vậy, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét một cách khách quan toàn diện về vụ việc mà bị cáo đã khai báo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Trên cơ sở lời khai của bị cáo, luận cứ bào chữa của luật sư và nội dung kháng cáo bổ sung của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX nhận thấy:
[3.1] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giả), bị cáo sử dụng để cầm cố, thế chấp cho bà Lê Thị N để vay tiền sử dụng vào việc thanh toán cho Công ty sổ số, bị cáo khai nhất quán từ giai đoạn điều tra đến phiên tòa phúc thẩm là do bà Nguyễn Thị Kim N2 (thiếm dâu) đưa cho bị cáo, sau khi biết được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà N2 đưa là giả, bị cáo đã liên hệ với bà N2 và bà N2 thừa nhận “Hết đường mới dùng đến cách đó”?, mặc khác, bị cáo còn nhắn tin thông qua ứng dụng Zalo trao đổi nội dung “à với mượn dc sổ cô M ko thiếm N2? để đổi sổ kia ra để tránh bị phát hiện với đi hỏi dễ hơn”? trên điện thoại di động của bị cáo nhắn tin qua điện thoại của bà N2, đây là các dữ liệu điện tử, nhưng trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng không tiến hành thu giữ của bị cáo và bà N2, để khai thác các dữ liệu trên máy điện thoại nhằm làm rõ về hành vi làm giả đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BB 513232, thửa đất số 1645, tờ bản đồ số 16cn, do UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 13/4/2010 đứng tên ông Đặng Văn C (chú ruột), đã chuyển nhượng cho bị cáo? Để xác định bà N2 làm giả đưa cho bị cáo? Hay bị cáo tự làm giả rồi sử dụng cầm cố, thế chấp cho bà N để vay mượn tiền là có vi phạm về thủ tục tố tụng, điều tra chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung tại phiên tòa được. Do vậy, HĐXX cấp phúc thẩm nhận thấy các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, tách hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức (đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả do bà N2 đưa cho bị cáo và bị cáo sử dụng) thực hiện hành vi lừa đảo để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là chưa giải quyết triệt để vụ án, có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội.Vì vậy, cần phải thu giữ 01(một) điện thoại di động hiệu OPpo của bị cáo Đ (hiện do ông Đặng Minh H cha ruột bị cáo) đang giữ, và 01(một) điện thoại di động của bà N2, nhằm khai các thông tin, dữ liệu có trong các máy điện thoại theo quy định của pháp luật.
[3.2] Đối với số tiền 426.200.000đ (Bốn trăm hai mươi sáu triệu, hai trăm ngàn đồng) bị cáo chiếm đoạt của bà N, bị cáo khai sử dụng vào việc thanh toán trả nợ cho Công ty X (cụ thể thông qua giao dịch đại lý vé số cấp 01(một) do (bà Tuyết M1 làm chủ đại lý) bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng, đưa tiền mặt có phiếu thu, dữ liệu này được lưu giữ trên máy tính của bị cáo (hiện máy tính do gia đình bị cáo đang quản lý). Xét đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có là (vật chứng của vụ án), tuy nhiên trong quá trình điều tra Công an huyện H, thành phố Đà Nẵng cũng chưa điều tra xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ này một cách đầy đủ, để trên xác định cụ thể số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà N thanh toán trả nợ cho công ty X thông qua (hình thức chuyển khoản qua ngân hàng; đưa tiền mặt theo dõi tại dữ liệu trên máy tính) là bao nhiêu tiền? để buộc công ty xổ số giao nộp lại vì đây là (vật chứng) của vụ án, nhằm đảm bảo việc thi hành án cho người bị hại bà N là có vi phạm về thủ tục tố tụng, mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung tại phiên tòa được.
[3.3] Ngoài ra theo lời khai của ông C (chú ruột bị cáo) khai có cho bị cáo Đ mượn 02 (hai) Giấy chứng nhận QSD đất (gọi tắc sổ đỏ) để cho bị cáo làm thủ tục vay vốn ngân hàng (dưới hình thức, sang tên, có lập hợp đồng thỏa thuận mượn) để làm thủ tục đứng tên vay tiền tại ngân hàng; đồng thời bị cáo Đ không nắm được thông tin trên 02 (hai) Giấy chứng nhận QSD đất (gọi tắc sổ đỏ), chỉ ký xác nhận trong hợp đồng, giấy tờ do dịch vụ giữ, và Đ có hỏi ông C về thửa đất có DT 126m2, hiện thế chấp vay vốn ngân hàng nào? (BL số 47-48), nội dung thông tin này cũng chưa được điều tra, xác minh, đối chất làm rõ về việc bị cáo Đ có biết các thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng (sổ đỏ giả) theo lời khai của bị cáo là do bà N2 (thiếm dâu) đưa cho bị cáo hay không? Nên nội dung này cũng cần điều tra đối chất làm rõ.
[4] Với những lập luận nêu tại tiểu mục [3.1]; [3.2] và [3.3] ở trên, HĐXX cấp phúc thẩm nhận thấy cần thiết phải thu thập, xác minh, điều tra lãm rõ những vấn đề nêu tại các tiểu mục mà không thể bổ sung tại phiên tòa cấp phúc thẩm được; Do đó, HĐXX cấp phúc thẩm cần phải hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của TAND huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng để giao hồ sơ vụ án về lại cấp sơ thẩm điều tra lại theo quy định của pháp luật.
[5] Do hủy toàn bộ Bản án nên, HĐXX không xem xét đến nội dung kháng cáo của bị cáo, cũng như luận cứ bào chữa của luật sư người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I.Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.1. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
1.2. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng để điều tra lại theo thủ tục chung.
II. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 156/2024/HS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 156/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra bổ sung
