|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/5/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh, bà Ngô Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 177/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/4/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tiên Thị H, sinh năm 1994. ĐKHKTT: Thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Nhật Bản.
- Người được chị H ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số H N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Bùi Duy C, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn Q, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn K, xã B, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các văn bản gửi cho Tòa án, nguyên đơn là chị Tiên Thị H trình bày: Chị và anh Bùi Duy C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương ngày 12/4/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn không có biện pháp khắc phục do bất đồng về quan điểm sống và chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Hai bên sống ly thân từ tháng 3/2019 đến nay, không quan tâm đến nhau. Gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn tình cảm được. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh C.
Chị với anh C có hai con chung là Bùi Duy T2- sinh ngày 22/11/2013, hiện đang ở cùng anh C và Bùi Hà V- sinh ngày 01/11/2016, hiện đang ở cùng chị. Chị đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và để anh C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Chị đề nghị Tòa án giao cháu V cho mẹ đẻ chị chăm sóc trong thời gian chị không có mặt ở Việt Nam.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, bị đơn là anh Bùi Duy C trình bày thống nhất với chị Tiên Thị H về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung của vợ chồng. Do tính cách và quan điểm sống khác nhau nên vợ chồng thường xảy ra va chạm, to tiếng làm tình cảm rạn nứt. Mặc dù đã tìm nhiều biện pháp khắc phục và được hai bên gia đình hòa giải, động viên nhưng vợ chồng vẫn không chung sống hòa hợp được. Tháng 3/2019, chị H về nhà đẻ sinh sống đến năm 2021 thì đi lao động tại Nhật Bản và hiện vẫn đang ở Nhật Bản. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn chị H để mỗi bên sớm ổn định cuộc sống riêng.
Anh nhất trí tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bùi Duy T2 và để chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bùi Hà V cho tới khi con chung thành niên. Anh và chị H không phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng nhau.
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà nhiều lần góp ý, hòa giải cho vợ chồng anh C, chị H nhưng không có kết quả. Số lần vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều, ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay và hiện không còn tình cảm với nhau nên bà đề nghị Tòa án chấp nhận cho vợ chồng được ly hôn. Trường hợp con chung được giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng thì bà nhất trí thay chị H chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu trong thời gian chị H không có mặt ở Việt Nam.
Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, anh T đã thông báo cho chị H biết và chị H vẫn giữ nguyên nội dung, quan điểm đã trình bày.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Tiên Thị H ly hôn anh Bùi Duy C. Giao con chung Bùi Duy T2- sinh ngày 22/11/2013 cho anh C và giao con chung Bùi Hà V- sinh ngày 01/11/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Chị H, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Tạm giao cháu V cho bà Nguyễn Thị T1 chăm sóc trong thời gian chị H không có mặt ở Việt Nam. Buộc chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Tiên Thị H hiện đang sinh sống tại Nhật Bản. Anh Bùi Duy C hiện đang sinh sống tại xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và đều có văn bản đề nghị Tòa án án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[1.3] Các tài liệu chị H gửi cho Tòa án đều được chứng thực hợp pháp nên có cơ sở xác định nội dung các tài liệu thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của chị H.
[2] Về hôn nhân:
Chị Tiên Thị H và anh Bùi Duy C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương ngày 12/4/2013. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Trình bày của các đương sự phù hợp với nhau nên có căn cứ xác định cuộc sống chung giữa chị H và anh C không hạnh phúc, thường xảy ra va chạm, to tiếng do khác biệt về tính cách và bất đồng quan điểm khi xử lý các vấn đề phát sinh. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nhưng không có biện pháp khắc phục nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Hiện cả hai bên đều trình bày không còn tình cảm với nhau. Vì vậy xác định hôn nhân giữa chị H với anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H xin ly hôn, anh C nhất trí ly hôn nhưng các đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa nên cần xử cho chị H được ly hôn anh C theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung:
Chị H và anh C có hai con chung là Bùi Duy T2- sinh ngày 22/11/2013, Bùi Hà V- sinh ngày 01/11/2016. Trong thời gian sống ly thân thì cháu T2 do anh C nuôi dưỡng, cháu V do chị H nuôi dưỡng. Nay cháu T2 có nguyện vọng được ở cùng anh C, cháu V có nguyện vọng được ở cùng chị H. Vì vậy đề nghị của chị H, anh C về việc giao cháu T2 cho anh C, giao cháu V cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau là có cơ sở và được chấp nhận. Chị H ủy quyền cho bà T1, bà T1 nhất trí nhận ủy quyền của chị H về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V trong thời gian chị H không có mặt tại Việt Nam là tự nguyện nên được chấp nhận.
[3] Về tài sản chung, nợ chung:
Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí:
Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Tiên Thị H và anh Bùi Duy C.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Bùi Duy T2- sinh ngày 22/11/2013 cho anh Bùi Duy C, giao con chung Bùi Hà V- sinh ngày 01/11/2016 cho chị Tiên Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Anh C, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Tạm giao cháu Bùi Hà V cho bà Nguyễn Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị Tiên Thị H không có mặt ở Việt Nam.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Tiên Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (do anh Nguyễn Ngọc T nộp thay) theo biên lai số 0000603 ngày 10/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
Bản án số 156/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 156/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H xin ly hôn anh C
