|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 156/2024/HC-ST Ngày: 07-8-2024 |
|
|
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Diệu
Bà Kiều Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 43/2024/TLST-HC ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HC ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Trà Văn S, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T - Phó Giám đốc Sở T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Anh T1 - Phó trưởng phòng Hành chính tổng hợp Văn phòng Đăng ký đất đai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Phạm Kim L1, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp Ông H, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An;
(Ông N, bà T1 có mặt, ông T, bà L, ông T2, bà L1, Ủy ban T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của khởi kiện có nội dung như sau:
Ông Trà Văn S yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 213387 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T2 đối với thửa đất 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953m², loại đất lúa, tọa lạc tại Ông Q, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Lý do yêu cầu: Thửa đất cấp cho ông Nguyễn Văn T2 trùng với thửa đất 1097, tờ bản đồ số số 8, của ông S. Ngày 08/12/2023, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L có văn bản phúc đáp phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trùng thửa. Ông T2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số CP 213387 ngày 01/11/2018, nhưng ông T2 đang quản lý sử dụng thửa đất 772. Ngày 30/9/2021, ông T2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho bà L1, nhưng đã bị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T trả hồ sơ do phát hiện trùng thửa.
Nay ông S yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên do Sở T cấp cho ông T2.
Tại Văn bản số 1950/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 26/3/2024 của người bị kiện Sở T trình bày có nội dung:
Ngày 07/4/1997, Ủy ban nhân dân huyện T ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 499800 cho bà Phạm Thị L thuộc thửa đất số 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953 m², loại đất lúa, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Ngày 01/10/2018, bà Phạm Thị L tặng cho toàn bộ thửa đất nêu trên theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C, quyền số 04TP/CC-SCC/HĐGD. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện T chuyển hồ sơ cho Văn phòng đăng ký đất đai trình Sở T ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành CP 213387 ngày 01/11/2018 cho ông Nguyễn Văn T2 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Đối với yêu cầu của người khởi kiện, Sở T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét, giải quyết theo quy định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có lời trình bày:
Bà Phạm Thị L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của ông T2 trình bày: Ngày 07/4/1997, bà được Ủy ban nhân dân huyện T ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 499800 cho thửa đất số 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953 m², loại đất lúa, xã T, huyện T sau đó bà đã tặng cho cho ông Nguyễn Văn T2. Thửa đất 1097 đã cấp cho ông T2 bị trùng thửa đất với ông S. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông S thì bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện, đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953m², loại đất lúa, tọa lạc tại ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Long An của ông Nguyễn Văn T2.
Bà Phạm Kim L1 trình bày: Bà đang làm thủ tục mua thửa đất số 1097 của ông Nguyễn Văn T2 nhưng không là giấy được do bị trùng thửa đất của ông S. Bà L1 không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy, ngày 07/4/1997 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 499800 cho bà Phạm Thị L thuộc thửa đất số 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953m², loại đất lúa. Ngày 01/10/2018 bà Phạm Thị L tặng cho toàn bộ thửa đất nêu trên cho ông T2 theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C, quyền số 04TP/CC-SCC/HĐGD và ông T2 được Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành CP 213387 ngày 01/11/2018 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Nhưng thực tế thửa đất 1097, diện tích 16.953m² hiện do ông Trà Văn S quản lý sử dụng trồng lúa. Ông Nguyễn Văn T2 quản lý sử dụng thửa 772, tờ bản đồ số 8, diện tích 13.772m². Thửa đất 1097 và thửa 772 các nhau rất xa khoảng 3km. Sở T khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2 chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất dẫn đến cấp sai đối tượng sử dụng đất. Ông Trà Văn S khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 213387 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T2 đối với thửa đất 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953m², loại đất lúa, tọa lạc tại ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Long An là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- [1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trà Văn S yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 213387 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T2 đối với thửa đất 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953m², loại đất lúa, tọa lạc tại ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
- [2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 08/12/2023, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L có văn bản phúc đáp Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2 trùng thửa đất với ông S, ông S mới biết nên ngày 02/01/2024, ông S nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, việc Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
- [3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng hành chính.
- [4] Người đại diện của người bị kiện ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị L, ông Nguyễn Văn T2, bà Phạm Kim L1, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp.
- [5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
Ngày 01/10/2018, bà Phạm Thị L tặng cho toàn bộ thửa đất 1097 cho ông T2 theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C, quyền số 04TP/CC-SCC/HĐGD. Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành CP 213387 ngày 01/11/2018 cho ông Nguyễn Văn T2 là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Tuy nhiên, Sở T khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T2 chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất là có sai sót.
- [6] Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện thửa đất 1097, diện tích 16.953m² hiện do ông Trà Văn S quản lý sử dụng trồng lúa. Ông Nguyễn Văn T2 quản lý sử dụng thửa 772, tờ bản đồ số 8, diện tích 13.772m². Hiện đang do bà L1 trực tiếp trồng lúa. Thửa đất 1097 và thửa 772 cách nhau rất xa khoảng 3km. Sở T khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2 chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất dẫn đến cấp sai đối tượng sử dụng đất. Nội dung này được chứng minh qua lời khai ông S, ông T2, biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An ngày 02/7/2024 và văn bản số 1972 ngày 23/01/2023 của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T.
Như vậy, ông T2 không quản lý, sử dụng thửa đất 1097, thửa đất này do ông S quản lý, sử dụng trồng lúa ổn định, không ai tranh chấp. Sở T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T2 đối với thửa đất 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953m², loại đất lúa, tọa lạc tại ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Long An là không đúng đối tượng sử dụng đất là trái với quy định tại Điều 5, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Trà Văn S là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
- [7] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Ông S đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.
Về án phí: Sở T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Áp dụng Điều 5, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trà Văn S.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 213387 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Văn T2 đối với thửa đất 1097, tờ bản đồ số 8, diện tích 16.953m², loại đất lúa, tọa lạc tại ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn T2 được quyền đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Buộc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, công vụ xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T2 theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trà Văn S chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, ông S đã nộp xong.
- Về án phí:
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) ông Trà Văn S đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 000187 ngày 23/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
Bản án số 156/2024/HC-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 156/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trà Văn Sích "Khiếu kiện quyết định hành chính" Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An
