|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2024/DS-ST
Ngày: 28 - 6 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Kim Tiến
Bà Lê Thị Xuân Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 471/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957.
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1967.
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Thị X, sinh năm 1968.
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Các đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày như sau: Ngày 15/4/2022, ông Nguyễn Văn B là hụi viên có hốt hụi do bà là chủ thảo số tiền tổng cộng là 92.800.000đồng mỗi tháng ông B phải có trách nhiệm đóng hụi chết số tiền là 9.600.000đồng. Ông B đã đóng được năm tháng còn nợ lại bảy tháng hụi chưa đóng với tổng số tiền là 67.200.000đồng. Việc hốt hụi là để ông B phục vụ trang trải cuộc sống gia đình cũng như chi tiêu trả nợ trong gia đình ông B. Bà có yêu cầu nhiều lần vợ chồng ông B phải trả cho bà số tiền trên nhưng bên ông B không thực hiện. Nay bà khởi yêu cầu ông B và vợ ông B là bà Châu Thị X phải liên đới trả cho tôi số tiền 67.200.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Bà Nguyễn Thị T là thảo hụi. Ông có tham gia hụi của bà T và có hốt hụi số tiền 92.800.000đồng như bà T trình bày. Ông có đóng được năm tháng hụi chết và còn nợ lại bảy tháng hụi chưa đóng với số tiền là 67.200.000đồng. Trước đây khi ông còn khỏe ông đóng bình thường nhưng do hiện nay ông bị bệnh nên không có tiền đóng cho đến hôm nay. Ông hốt hụi dùng việc tiêu xài cá nhân và trả nợ trong gia đình. Trước khi bị bệnh ông có tiền đóng tiền hụi cho bà T nhưng hiện nay ông không có khả năng đóng nữa nên xin trả dần 1.000.000đồng cho đến khi hết số nợ 67.200.000đồng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị X trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn B. Việc ông B tham gia chơi hụi và vay tiền với những người khác bà không biết nên ông B hứa trả cho bà T thì tự ông B tự trả. Còn bà không có khả năng trả khi nào bà có tiền thì tôi cho tiền ông B trả còn buộc bà cùng liên đới trả thì bà không đồng ý.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T trình bày: Ông B vay tiền của tôi bà X có biết việc vay nợ và ông B dùng vào việc gia đình nên bà đề nghị bà X liên đới trả nợ. Ngoài ra ông B có nói với bà để ông B sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sáng tên cho bà X đứng tên để bà X vay ngân hàng trả nợ cho bà nhưng khi sang tên đất bà X thì bà X không liên đới trả nợ là bà không đồng ý.
Tại phiên tòa bị đơn ông B trình bày: Việc vay tiền vợ ông không biết đến khi hòa giải tại ấp thì vợ ông mới biết. Ông cũng yêu cầu vợ tôi bà X liên đới trả nợ phụ ông khi bán được nhà và đất.
Tại phiên tòa bà Châu Thị X trình bày: Bà chung sống với ông B từ năm 1987 và sau này có đăng ký kết hôn. Việc vay tiền bà hoàn toàn không biết. Việc sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông B qua cho bà là do ông B hiện nay sức khỏe yếu không tiện việc ký hợp đồng. Nay bà không đồng ý liên đới cùng ông B trả nợ, khi nào bà được nhà đất của bà xong thì bà sẽ hỗ trợ ông B trả nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu:
- - Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Nguyên đơn bà T yêu cầu ông B và bà X liên đới trả số tiền là 67.200.000đồng. Bị đơn thừa nhận nợ và đồng ý trả nợ số tiền 67.200.000đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về yêu cầu ông B và bà X liên đới trả nợ thấy rằng tại phiên tòa bị đơn thừa nhận nợ và ông B và bà X thừa nhận là vợ chung và không chứng minh được việc số nợ này dùng vào việc cá nhân của ông B nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cần buộc ông B và bà X liên đới trả nợ cho bà T tổng cộng số tiền là 67.200.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi với bị đơn ông Nguyễn Văn B nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, bị đơn ông Nguyễn Văn B thường trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải. Các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục. Qua hòa giải các đương sự đã không thỏa thuận được với nhau, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X liên đới trả số tiền tổng cộng 67.200.000đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Căn cứ “Biên bản hòa giải” đề ngày 22/4/2024 của Tổ hòa giải ấp H, xã H, huyện Đ thể hiện ông Nguyễn Văn B có thiếu nợ hụi chết của bà T tổng số tiền là 67.200.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông B cũng thừa nhận có nợ và đồng ý trả số tiền nợ hụi là 67.200.000đồng như nguyên đơn trình bày nên đây được xem là các tình tiết sự thật của vụ án, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92, 93 Bộ luật Tố tụng dân sự và sự thỏa thuận, quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Do đó, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả số tiền 67.200.000đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 471, Điều 280 Bộ luật dân sự.
[2.2] Theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông B, bà X đều trình bày xác định là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1987 nên hôn nhân giữa ông B và bà X là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà T yêu cầu ông B và bà X liên đới trả nợ. Bị đơn ông B trình bày việc vay tiền để tiêu xài cá nhân, trả nợ và quá trình hòa giải ông đồng ý vợ chồng liên đới trả nợ nhưng tại phiên tòa ông B trình bày việc tham gia hụi bà X không biết. Còn bà X trình bày không có khả năng trả khi nào bà có tiền hoặc bán được nhà đất thì bà cho tiền ông B trả còn buộc bà cùng trả thì bà không đồng ý
Hội đồng xét xử thấy rằng, việc tham gia hụi phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, ông B trình bày mục đích vay tiền dùng để chi tiêu cá nhân và trả nợ trong gia định nên căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T, cần buộc ông B và bà X phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ hụi tổng cộng là 67.200.000đồng cho bà T là phù hợp với Điều 280, Điều 288, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2.3] Về yêu cầu tính lãi suất: Các bên không yêu cầu, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.
[2.4] Xét về thời hạn trả nợ: Ông B thừa nhận tiền nợ hụi đã lâu nhưng không thực hiện trả tiền theo thỏa thuận hợp đồng góp hụi, điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà T. Ông B và bà X yêu cầu trả dần nhưng không được nguyên đơn bà T đồng ý. Vì vậy nguyên đơn bà T yêu cầu ông B và bà X trả một lần số tiền trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét đề nghị của kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T nên bị đơn ông Nguyễn Văn B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị X phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với nghĩa vụ hoàn trả số tiền 67.200.000đồng là 3.360.000đồng theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 280, Điều 288, Điều 466, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với bị đơn ông Nguyễn Văn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị X.
Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền nợ hụi tổng cộng là 67.200.000đồng (Sáu mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Thời hạn và phương thức thanh toán: Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X liên đới phải chịu 3.360.000đồng (Ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị X chưa nộp.
3. Về kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, bị đơn ông Nguyễn Văn B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị X có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thành |
Bản án số 156/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 156/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T "tranh chấp hợp đồng góp hụi" Nguyễn Văn B
