|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG M TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2023/HSST
Ngày 14 - 08 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG M, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; bà Phạm Thị Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Ph Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông M, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông M tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 08 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông M, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2023/HSST ngày 20 tháng 07 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Lường Văn B, sinh năm 1995, tại Sông M, Sơn La.
Nơi cư trú: Bản Nong M, xã Yên H, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Lường Văn B và bà Cà Thị Th; bị cáo có vợ là Lường Thị Ch và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/04/2023 cho đến nay; có mặt.
- Tòng Văn Th, sinh năm 1989, tại Sông M, Sơn La.
Nơi cư trú: Bản Nong M, xã Yên H, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Tòng Văn T và bà Quàng Thị Ph; bị cáo có vợ là Lường Thị Đ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/04/2023 cho đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Tòng Văn T, sinh năm 1959; trú tại: Bản Nong M, xã Yên H, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, có mặt
- Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1987; trú tại: Bản Mường N, xã Mường L, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 20 phút ngày 12/4/2023 tổ công tác Công an xã Yên H, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Nà Dìa, xã Yên H, huyện Sông Mã phát hiện 02 nam thanh niên đang điều khiển trên một xe mô tô có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy, tổ công tác đã ra tín hiệu yêu cầu dừng xe kiểm tra. Người điều khiển xe khai nhận là Lường Văn B, sinh năm 1995; người ngồi sau xe là Tòng Văn Th, sinh năm 1989, cư trú cùng bản Nong Mừ, xã Yên H, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Qua kiểm tra phát hiện tại túi áo khoác bên trái đang mặc của Lường Văn B có một gói nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng và chất bột liên kết màu trắng theo B và Thg khai nhận là Heroine và Hồng phiến. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng; tạm giữ của Bảo 01 xe mô tô Wave biển kiểm soát 26C1-306.43, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; tạm giữ của Th 01 điện thoại di động hiệu Masstel.
Ngày 13/4/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông M đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, tiến hành cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả:
- 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,08gam, trích hết làm mẫu giám định ký hiệu B1.
- Số bột liên kết màu trắng thu giữ có khối lượng 0,30gam, trích 0,04gam gửi giám định ký hiệu B2, còn lại 0,26gam lưu kho ký hiệu L.
Kết luận giám định số 801/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08gam.
Mẫu ký hiệu B2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,04gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,08gam, loại Methamphetamine và 0,30gam loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Lường Văn B, Tòng Văn Th là bạn ở cùng bản và cùng sử dụng ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 12/4/2023 Bảo gọi điện thoại cho Th rủ Th đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng thì Th nói không có tiền. B nói sẽ bán điện thoại để lấy tiền đi mua ma túy khi nào có tiền Th góp tiền mua lại điện thoại cùng B thì Th đồng ý. Sau đó Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26C1-306.43 của gia đình đến đón Bảo đi ra cửa hàng điện thoại “Ph Vượng” do anh Nguyễn Đình Ph sinh năm 1987 trú tại bản Mường N, xã Mường L, huyện Sông M làm chủ quán. B gặp và bán chiếc điện thoại Redmi 9A cho anh Ph với giá 500.000 đồng. Có tiền, Th điều khiển xe mô tô chở B đi đến xã Pú Bẩu để tìm mua ma túy. Khi đến trung tâm xã Pú Bẩu, Th và B không biết tên bản nào gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trò chuyện, Th hỏi mua 100.000 đồng Hồng phiến và 400.000 đồng Heroine. Người đàn ông đồng ý nhận lấy tiền rồi đi khoảng 20 phút sau quay lại đưa cho B 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên Hồng phiến và Heroine. B nhận lấy gói ma túy cất giấu vào túi áo khoác bên trái đang mặc, rồi Th điều khiển xe mô tô đi về. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, Th và B về đến bản Nà Dìa, xã Yên H, huyện Sông M thì bị tổ công tác của Công an xã Yên H phát hiện bắt quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ Ph tiện, đồ vật liên quan. Ngày 12/4/2023 anh Ph đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã.
Cáo trạng số 108/CT-VKSSM ngày 19 tháng 07 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông M đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông M để xét xử các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Lường Văn B từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm 02 tháng tù;
- - Xử phạt bị cáo Tòng Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
- - Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị:
- - Tịch thu để tiêu hủy: 0,26 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
- - Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại NOKIA, vỏ màu đen; 01 chiếc điện thoại Masstel, vỏ màu đỏ đen
- - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Tòng Văn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu xanh bạc, biển kiểm soát 26C1-306.43.
- - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình Ph 01 chiếc điện thoại Redmi 9A, vỏ màu xanh.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th, do các bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị HĐXX xem xét:
- - Ông Tòng Văn T đề nghị được trả lại 01 chiếc xe mô tô, BKS 26C1-306.43.
- - Anh Nguyễn Đình Ph đề nghị được trả lại 01 chiếc điện thoại Redmi 9A.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, ye kiến của những người liên quan, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 12/04/2023 các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th đã có hành vi tàng trữ 0,30 gam ma túy, loại Heroine và 0,08 gam ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 0,38 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông M, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông M. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông M truy tố các bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ một năm đến năm năm.
[3] Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa Ph nên cần xử lý nghiêm.
[4] Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Lường văn B giữ vai trò đầu vụ, gọi điện rủ rê bị cáo Tòng Văn Th cùng đi mua ma túy và đã bán chiếc điện thoại của mình để có tiền đi mua ma túy; bị cáo Tòng Văn Th tiếp nhận ý chí từ bị cáo B và sử dụng chiếc xe mô tô của gia đình mình điều khiển xe chở B đi tìm để mua ma túy, giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực. Nên bị cáo B phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Th.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm B cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy các bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về các tình tiết, đối tượng có liên quan:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên, địa chỉ là người đã bán ma tuý cho các bị cáo tại khu vực thuộc trung tâm xã Pú Bẩu, Sông M vào ngày 12/4/2023. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[6] Về vật chứng của vụ án: Vật chứng đang B quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông M gồm: 0,26 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 điện thoại NOKIA, vỏ màu đen; 01 chiếc điện thoại Masstel; 01 chiếc điện thoại Redmi; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu xanh bạc, BKS 26C1-306.43.
- - Đối với 0,26 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- - Đối 01 chiếc điện thoại NOKIA, vỏ màu đen, số IMEI: 353299050326918 là Ph tiện mà bị Lường Văn B sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối 01 chiếc điện thoại Masstel, vỏ màu đỏ đen, số IMEI1: 352377076892666, số IMEI2: 352377076892674 là Ph tiện mà bị Tòng Văn Th sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối 01 chiếc điện thoại Redmi 9A, vỏ màu xanh, số IMEI1: 864699050780844, số IMEI2: 864699050780851 do anh Nguyễn Đình Ph giao nộp, là điện thoại do Lường Văn B đem bán cho anh Nguyễn Đình Ph. Đây là tài sản của anh Ph, không liên quan đến hành vi phạm tội của Lường Văn B và Tòng Văn Th, nên cần trả lại cho anh Ph.
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu xanh bạc, BKS 26C1-306.43, số khung: KLHJA3922NY478226, số máy: JA39E2918821 là Ph tiện mà bị cáo Tòng Văn Th sử dụng chở Lường Văn B đi mua ma túy ngày 12/04/2023, xe đăng ký mang tên Tòng Văn Th. Kết quả tra cứu, chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tòng Văn T (bố của bị cáo Th) trình bày: Chiếc xe máy nêu trên là tài sản chung của gia đình ông, xe mua từ tháng 2/2023 với giá 19.000.000đ tại một cửa hàng bán xe máy tại xã Mường Lầm, Sông M. Sau khi mua xe về thì đăng ký mang tên con trai là Tòng Văn Th. Ngày 12/04/2023 con trai của ông là bị cáo Tòng Văn Th sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy, bị Công an bắt giữ và thu giữ chiếc xe thì ông không biết. Ông T đề nghị xin được trả lại chiếc xe máy, nên HĐXX cần chấp nhận và trả lại 01 chiếc xe máy có đặc điểm nêu trên cho ông Tòng Văn T.
[7] Về án phí: Các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Xử phạt bị cáo Lường Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/04/2023.
- - Xử phạt bị cáo Tòng Văn Th 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/04/2023.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu để tiêu huỷ: 0,26 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
- - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại NOKIA, vỏ màu đen, số IMEI: 353299050326918; 01 chiếc điện thoại Masstel, vỏ màu đỏ đen, số IMEI1: 352377076892666, số IMEI2: 352377076892674 là Ph tiện các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th sử dụng vào mục đích phạm tội.
- - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Tòng Văn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu xanh bạc, BKS 26C1-306.43, số khung: KLHJA3922NY478226, số máy: JA39E2918821.
- - Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình Ph 01 chiếc điện thoại Redmi 9A, vỏ màu xanh, số IMEI1: 864699050780844, số IMEI2: 864699050780851.
Những vật chứng trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 24 tháng 07 năm 2023 giữa Công an huyện Sông M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông M.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Các bị cáo Lường Văn B, Tòng Văn Th được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2023).
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |
Bản án số 156/2023/HSST ngày 14/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG M, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 156/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG M, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA HSST
