|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 156/2023/DS-PT
Ngày: 15-11-2023
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1967 và bà Hồ Thị S, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
-
- Bị đơn: Ông Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 1981
Hộ khẩu thường trú: 1 N, phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: 13 T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Ngô Trí V – Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh Bình Thuận.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Liêu Hồng T, sinh năm 1958
- + Bà Võ Thị T1, sinh năm 1971
-
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Liêu Hồng T, sinh năm 1958 (Theo Tờ ủy quyền ngày 13/9/2023)
Cùng địa chỉ: Tổ B, khóm B, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- + Ông Mai Văn N, sinh năm 1959
-
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
-
+ Bà Mai Thị Hồng T2, sinh năm 1979
Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
-
+ Ông Dương Gia T3, sinh năm 1968
Địa chỉ: 118/11 phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
+ Bà Võ Thị T4, sinh năm 1989
Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 1981; Hộ khẩu thường trú: 1 N, phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 13 T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 21/4/2022)
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Thanh H.
Tại phiên toà, có mặt: ông Lê Thanh H, ông Nguyễn Vĩnh P, ông Liêu Hồng T, ông Ngô Trí V, bà Hồ Thị S; Vắng mặt: Ông Mai Văn N, bà Mai Thị Hồng T2, bà Nguyễn Thị L, bà Võ Thị T4, ông Dương Gia T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/6/2019, cũng như tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị S trình bày:
Vào năm 2006 vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng của ông Liêu Hồng T diện tích 105.000m² tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận với giá là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Khi nhận chuyển nhượng thì giữa vợ chồng ông bà với ông T chỉ chuyển nhượng bằng giấy tay do diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay thì vợ chồng ông sử dụng diện tích đất này để trồng cây tràm (Hiện nay còn sót lại một số cây vì trong quá trình trồng thì tràm bị chết). Đến năm 2017 vợ chồng ông bà san ủi để trồng lại và đến tháng 10/2017 làm thủ tục để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được Ủy ban nhân dân xã H trả lời đất đang có tranh chấp nên không làm thủ tục cấp được. Vào năm 2018 thì ông P tự ý cho máy cày cày xới và làm thay đổi hiện trạng đất của vợ chồng ông bà. Nay ông bà yêu cầu ông Nguyễn Vĩnh P trả lại đất qua đo đạc hiện trạng tổng diện tích là 59.482,8m², tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Tại bản khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Vĩnh P trình bày:
Theo yêu cầu khởi kiện của ông H, bà S thì ông không đồng ý. Bởi vì: Vào năm 2003 giữa ông với con gái ông Mai Văn N là Mai Thị Hồng T2 có vay mượn tiền qua lại, sau đó con gái ông N không có khả năng trả nợ cho ông nên đã chuyển nhượng cho ông diện tích đất khoảng hơn 200.000m². Vào ngày 02/8/2012 giữa ông với ông N làm biên bản để giao nhận 200.000m² đất tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (trong đó có cả diện tích đất tranh chấp trên) để canh tác. Khi nhận chuyển nhượng thì hai bên làm giấy cấn chấp đất (thay cho các giấy tờ đã ký trước đây) và có đi xác định ranh giới rõ trong giấy chuyển nhượng vì khi đó diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 2013 ông bắt đầu canh tác diện tích đất này. Khi nhận chuyển nhượng thì ông canh tác, sử dụng để trồng cỏ và đậu phộng. Đến năm 2018 thì ông bắt đầu trồng điều. Từ khi nhận đất để canh tác thì không có ai cản trở. Đến đầu năm 2019 khi nhà nước tiến hành đo đạc trong dự án đường cao tốc thì ông mới biết đến việc ông Lê Thanh H tranh chấp diện tích đất trên. Theo yêu cầu của ông H, bà S thì ông không đồng ý vì đất này là đất của ông và ông đã sử dụng liên tục từ năm 2013 cho đến nay. Ngoài ra ông không trình bày gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Liêu Hồng T trình bày:
Vào năm 2004 ông có nhận chuyển nhượng từ ông Mai Văn N diện tích đất là 100.000m² với số tiền là 70.000.000 đồng, ông có trả cho ông N hai lần 50.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng chưa trả vì ông N hứa làm sổ đỏ đất cho ông nhưng chưa làm được. Đến năm 2006, ông có chuyển nhượng lại cho ông Lê Thanh H diện tích đất trên với số tiền 100.000.000 đồng. Khi ông nhận chuyển nhượng đất của ông N ông có san ủi trồng cây keo là tràm nhưng do khô hạn bị chết rất nhiều. Trong thời gian canh tác đất này thì có ông Dương Gia T3 là em rễ của ông đến làm thuê cho ông, còn ông hay đi về quê ở Đồng Tháp, hiện nay vợ chồng ông T3 bỏ nhau nên ông T3 sinh sống ở đâu thì ông không rõ. Sau khi ông chuyển nhượng đất cho ông Lê Thanh H thì ông về Đồng Tháp ở cho đến nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn N trình bày:
Ông là cha ruột của bà Mai Thị Hồng T2, ông xác định nguồn gốc số diện tích đất tranh chấp nói trên là do ông khai hoang từ lâu ông không nhớ, ngoài số diện tích đất trên xung quanh còn nhiều đất khác. Sau đó ông có chuyển nhượng cho ông Liêu Hồng T vào năm nào không nhớ số diện tích 100.000m² với số tiền là 70.000.000 đồng. Ông T có trả cho ông số tiền 50.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng ông T chưa trả. Trước đây ông có cho con gái ông một số đất, nhưng đất tọa lạc tại xã H chứ không phải tọa lạc ở xã H. Ông xác định chữ viết và chữ ký trong Giấy cấn chấp đất lập ngày 02/8/2012 là do ông viết và ký vì ông cũng có giao một số đất cho ông P canh tác sử dụng, nhưng không phải là số diện tích mà ông đã chuyển nhượng cho ông Liêu Hồng T và ông xác định số diện tích đất ông chuyển nhượng cho ông T chính là số diện tích đất hiện nay ông H đang tranh chấp với ông P. Hiện nay ông bệnh rất nặng, ông yêu cầu Tòa giải quyết vắng mặt ông.
Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã lập các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L, bà T, ông T3 nhưng bà L, bà T, ông T3 không đến Tòa án làm việc.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ vào: - Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 94, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 4, Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 99, Điều 100, Điều 164, Điều 166, khoản 2 Điều 170, khoản 1 Điều 179, khoản 2 Điều 203 của Luật Đất đai;
- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị S về việc yêu cầu ông Nguyễn Vĩnh P giao trả cho ông bà số diện tích đất qua đo đạc hiện trạng tổng diện tích là 59.482,8m², tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/6/2023, nguyên đơn ông Lê Thanh H kháng cáo, yêu cầu hủy án bản án sơ thẩm, trả hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn ông Lê Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, ông không có tài liệu chứng cứ gì để bổ sung thêm.
- - Bà Hồ Thị S thống nhất với ý kiến của ông Lê Thanh H.
- - Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Liêu Hồng T thống nhất với ý kiến của ông Lê Thanh H.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thanh H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Tại phiên tòa, vắng mặt ông Mai Văn N, bà Nguyễn Thị L, bà Mai Thị Hồng T2 nhưng ông N, bà L, bà T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này là phù hợp. Đối với ông Dương Gia T3, quá trình xác minh ở cấp sơ thẩm không xác định được địa chỉ của ông T3 nên cấp phúc thẩm không thể thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T3.
- Đơn kháng cáo của ông Lê Thanh H nộp trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn ông Lê Thanh H kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm, trả hồ sơ về Tòa án huyện để xét xử lại, vì cho rằng bản án sơ thẩm chỉ căn cứ vào những công văn phúc đáp của Ủy ban nhân dân xã H và Ủy ban nhân dân huyện H mà không căn cứ vào thực tế sử dụng đất của ông H, ông cho rằng thửa đất diện tích 105.000m², sau khi đo đạc hiện trạng đất tranh chấp thực tế là 59.482,8m² (Theo Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 10/10/2019 của Công ty TNHH T6) tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là của ông Lê Thanh H và bà Hồ Thị S nhận chuyển nhượng bằng giấy tay từ ông Lê Hồng T5 vào năm 2006. Tuy nhiên, ông H không xuất trình được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh quyền sử dụng hợp pháp thửa đất này là của vợ chồng ông.
- Căn cứ tại các Văn bản số 83/UBND-KT ngày 21/4/2020 và Văn bản số 418/UBND-KT ngày 27/8/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, có thể xác định thửa đất tranh chấp giữa vợ chồng ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị S với ông Nguyễn Vĩnh P thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 48, diện tích 55.296m² (đo đạc theo chương trình đa dạng hóa nông nghiệp do công ty TNHH T7 tiến hành đo đạc, được phê duyệt ngày 26/10/2005) và được quy chủ cho ông Dương Gia T3, sinh năm 1968 ở 118/11 phường A, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh là đất bằng chưa sử dụng, chưa được đăng ký quyền sử dụng đất và không có một trong các loại giấy tờ theo quy định của Luật Đất đai. Bởi, tại thời điểm công ty TNHH T7 theo chương trình đa dạng hóa nông nghiệp có quy chủ thửa đất trên cho ông T3 là đúng vì thời điểm đo đạc không có ông T5 mà chỉ có ông T3 là người chỉ dẫn đo đạc nên tổ đo đạc ghi tên ông T3. Đồng thời, Ủy ban nhân dân xã H đã đưa ra ý kiến về diện tích đất tranh chấp: “Do thửa đất 59.482,8m² chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai, các hộ sử dụng đất trước đây không có quá trình sử dụng ổn định, liên tục".
- Trong vụ án này, theo thông tin từ ông Liêu Hồng T thì ông Dương Gia T3 là em rể của ông Liêu Hồng T, năm 2005 được ông T thuê ông T3 trông coi đất. Hiện nay ông T3 đã ly hôn với vợ và sang Campuchia sinh sống. Những thông tin này là do ông Liêu Hồng T cung cấp trong quá trình xác minh, làm việc tại Ủy ban nhân dân xã H. Tại Văn bản số 3336/CAQ-QLHC ngày 05/8/2022 của Công an Q, T trên địa bàn Quận E, thành phố H không có địa chỉ 118/11 phường A, Quận E và tại văn bản số 2673/QLXNC-P5 ngày 12/10/2022 của Cục Q1 xác định không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất cảnh nhập cảnh về người có tên Dương Gia T3. Nên cho đến thời điểm hiện tại Tòa án vẫn chưa thể làm việc được với ông Dương Gia T3 để xác minh các thông tin như ông Liêu Hồng T trình bày về nguồn gốc thửa đất được quy chủ cho người có tên Dương Gia T3.
- Qua những phân tích trên, không có căn cứ để xác định diện tích đất tranh chấp là của ông Liêu Hồng T sau đó chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị S và cho đến thời điểm hiện tại cũng chưa xác định được chủ sử dụng hợp pháp của diện tích đất tranh chấp nêu trên. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị S yêu cầu ông Nguyễn Vĩnh P trả lại diện tích đất 59.482,8m² (Theo Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 10/10/2019 của Công ty TNHH T6) tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là không có căn cứ nên Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông H, bà S là hoàn toàn có căn cứ.
- Ông Lê Thanh H kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Lê Thanh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Thanh H; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh H bà Hồ Thị S về việc yêu cầu ông Nguyễn Vĩnh P giao trả cho ông bà số diện tích đất qua đo đạc hiện trạng tổng diện tích là 59.482,8m², tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị S phải chịu 7.763.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông H bà S đã nộp đủ tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
-
Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Thanh H, bà Hồ Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại 2.200.000 (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ông H, bà S đã nộp tạm ứng án phí 2.500.000 đồng theo Biên lai số 0026805 ngày 26/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Lê Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông Lê Thanh H đã nộp theo biên lai thu số 0014714 ngày 13/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc; Ông Lê Thanh H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (15/11/2023).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Tuấn |
Bản án số 156/2023/DS-PT ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 156/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào năm 2006 vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng của ông Liêu Hồng T diện tích 105.000m2 tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận với giá là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Khi nhận chuyển nhượng thì giữa vợ chồng ông bà với ông T chỉ chuyển nhượng bằng giấy tay do diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay thì vợ chồng ông sử dụng diện tích đất này để trồng cây tràm (Hiện nay còn sót lại một số cây vì trong quá trình trồng thì tràm bị chết). Đến năm 2017 vợ chồng ông bà san ủi để trồng lại và đến tháng 10/2017 làm thủ tục để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được Ủy ban nhân dân xã H trả lời đất đang có tranh chấp nên không làm thủ tục cấp giấy được. Vào năm 2018 thì ông P tự ý cho máy cày cày xới và làm thay đổi hiện trạng đất của vợ chồng ông bà. Nay ông bà yêu cầu ông Nguyễn Vĩnh P trả lại đất qua đo đạc hiện trạng tổng diện tích là 59.482,8m2, tọa lạc tại thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
