Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 156/2021/DS-PT
Ngày 26 – 11 – 2021
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất rừng
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hùng Quang.

Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế; Ông Đặng Minh Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Dẽ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2021/TLPT-DS ngày 09 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất rừng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2021/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 159/2021/QĐ-PT ngày 05 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1951. Cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện N, tỉnh C.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn T2 – Thuộc văn phòng luật sư Ngô Đình Chiến. Địa chỉ: Số 142 Phạm Hồng Thám, khóm 2, phường 4, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1956. Cư trú tại: Ấp Dinh Hạn, xã Tân Ân, huyện Ngọc, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Văn Bỉnh (đã chết).
  2. Bà Phan Thị L. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Huỳnh Minh C. Cùng cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  4. Bà Huỳnh Thị N1. Cư trú tại: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh C.
  5. Bà Huỳnh Thị B2. Cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh C.
  6. Bà Huỳnh Kim U, sinh năm 1958. Cư trú tại: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh C.
  7. Bà Lê Thị Lài (vợ ông Huỳnh Văn Sáu đã chết). Cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh C.
  8. Chị Huỳnh Thị D1. Cư trú tại: Khóm 1, thị t, huyện N, tỉnh C.
  9. Anh Huỳnh Văn D2. Cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh C.
  10. Anh Huỳnh Văn D3. Cư trú tại: Khóm 7, thị t, huyện N, tỉnh C.
  11. Chị Huỳnh Thị G. Cư trú tại: Khóm 7, thị t, huyện N, tỉnh C.
  12. Chị Huỳnh Thị D1. Cư trú tại: Khóm 1, thị t, huyện N, tỉnh C.
  13. Anh Hồng Quang D4. Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh C.
  14. Ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1963. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  15. Bà Huỳnh Hồng N2. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  16. Ông Huỳnh Minh X, sinh năm 1973. Cư trú tại: Khóm 1, thị t, huyện N, tỉnh C.
  17. Ông Huỳnh Minh M1, sinh năm 1974. Cư trú tại: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh C.
  18. Anh Huỳnh Minh N3. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  19. Bà Trương Thị D5, sinh năm 1958. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  20. Anh Huỳnh Phương D6, sinh năm 1979. Cư trú tại: Ấp Ô, xã T, huyện N, tỉnh C.
  21. Chị Huỳnh Ngọc H2, sinh năm 1981. Cư trú tại: Ấp R, xã Đ, huyện N, tỉnh C.
  22. Anh Huỳnh Ngọc D7, sinh năm 1982. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  23. Chị Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1986. Cư trú tại: Khóm 8, thị t, huyện N, tỉnh C.
  24. Anh Huỳnh Ngọc H3, sinh năm 1987. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  25. Chị Huỳnh Ngọc H4, sinh năm 1989. Cư trú tại: Khóm 8, thị t, huyện N, tỉnh C.
  26. Anh Huỳnh Văn T3, sinh năm 1991. Cư trú tại: Ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  27. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Ngọc Hiển.
  28. Ban quản lý rừng phòng hộ Kiến V.
  29. Ủy ban nhân dân xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn B1 là nguyên đơn và ông Huỳnh Văn T1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 6 năm 2019 ông Huỳnh Văn B1 trình bày: Cha, mẹ ông là Huỳnh Văn Cấm và bà Tiết Thị Nhục (hiện nay đã chết) có khai phá một phần đất tại ấp Dinh Hạn, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Đến năm 1980 cha, mẹ ông có họp gia đình, cắt cho ông một phần đất có diện tích chiều ngang 50m, chiều dài 250m để ông ra riêng sinh sống. Sau khi được cho đất thì ông quản lý sử dụng, cho đến năm 1987, ông đi làm ăn xa nên ông có bàn bạc, thoả thuận cho em ruột ông là ông Huỳnh Văn T1 mượn phần đất chiều ngang 50m, chiều dài 150m để em ông bao ví nuôi tôm cải thiện cuộc sống.

Nay ông trở về địa phương sinh sống. Do đó ông làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn T1 trả lại cho ông phần đất chiều ngang 50m, chiều dài 150m, có giá trị bằng tiền 150.000.000 đồng.

Ông Huỳnh Văn T1 là bị đơn trình bày: Ông không thống nhất theo yêu cầu của ông Huỳnh Văn B1. Lý do phần đất ông Huỳnh Văn B1 yêu cầu là do ông và cha mẹ ông khai phá năm 1986. Tổng diện tích khoảng 5,6ha. Phần đất này hiện nay do ông đang quản lý 5,6ha được Ban quản lý rừng giao khoán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Văn B1 yêu cầu được nhận phần đất diện tích 7.500m2. Phần đất tranh chấp ông B1 yêu cầu ông T1 trả lại diện tích 7.500m2 ông cho là cha, mẹ cho ông. Thời điểm cho đất còn hoang hóa, ông đã canh tác đến năm 1987, sau đó cho ông T1 mượn để canh tác. Tuy nhiên, ông B1 hoàn toàn không có chứng cứ gì chứng minh việc ông T1 mượn đất.

[2] Phần đất tranh chấp chiều ngang 50m, dài 150m vị trí nằm trong sổ hợp đồng giao khoán của Ban quản lý rừng phòng hộ Kiến V được ông Huỳnh Văn T1 quản lý sử dụng canh tác, thuộc loại đất rừng. Năm 1995 nhà nước có chủ trương giao khoán đất rừng đến từng hộ dân, thì hộ ông Huỳnh Văn T1 được giao đất rừng có phần đất ông B1 đang yêu cầu.

[3] Đối với kháng cáo của ông T1: Về nguồn gốc đất ông T1 cho là ông và cha, mẹ ông khai phá phần đất. Biên bản hoà giải ngày 22 tháng 5 năm 2019 ông T1 thừa nhận đang quản lý và không đồng ý trả lại phần đất nêu trên cho ông Huỳnh Văn B1 vì phần đất trên ông đã sử dụng ổn định, lâu dài được Ban quản lý rừng phòng hộ Kiến V cấp sổ giao khoán.

[4] Xét thấy ông T1 là người quản lý, sử dụng phần đất rừng phòng hộ ổn định lâu dài và đã được cấp sổ hợp đồng giao khoán. Cấp sơ thẩm buộc ông T1 trả giá trị đất cho ông B1 số tiền 150.000.000 đồng là chưa có căn cứ.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 165, Điều 168 Bộ luật dân sự 2005; Điều 203 Luật đất đai 2013.

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn B1 buộc bị đơn ông Huỳnh Văn T1 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 7.500m2 trị giá đất bằng số tiền 150.000.000 đồng cho ông Huỳnh Văn B1.

2/ Ghi nhận sự tự nguyện của ông Huỳnh Văn T1 hỗ trợ cho ông Huỳnh Văn B1 số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng).

Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển;
- Chi cục THADS huyện Ngọc Hiển;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)

Dương Hùng Quang
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2021/DS-PT ngày 26/11/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất rừng

  • Số bản án: 156/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất rừng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger