Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 1555/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2020
V/v Tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Thông
Ông Nguyễn Thành Châu

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4444/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Hà Thị Mỹ T, sinh năm 1989.
    Địa chỉ: Số 91/3 đường H, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Ông Weng, Yu-P, sinh năm 1982
    Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).
    Địa chỉ: Đài Loan.

(Các đương sự đều có đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn là bà Hà Thị Mỹ T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Weng, Yu-P tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2017 ngày 04 tháng 4 năm 2017. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian về sau thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng ngôn ngữ, bất hòa về quan điểm, công việc, nơi cư trú, tính tình và lối sống khác biệt nhau. Ông Weng, Yu-P thì về Đài Loan không trở lại Việt Nam, còn bà thì ở lại Việt Nam, vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau nữa, cũng không thể hòa giải và hàn gắn lại được nên đã ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, giải quyết cho bà được ly hôn với ông Weng, Yu-P.

Về con chung: Bà và ông Weng, Yu-P không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà và ông Weng, Yu-P không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông Weng, Yu-P không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Đơn cam kết đồng ý ly hôn đã được chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự, bị đơn là ông Weng, Yu-P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Hà Thị Mỹ T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh N và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2017 ngày 04 tháng 4 năm 2017. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian về sau thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng ngôn ngữ, bất hòa về quan điểm, công việc, nơi cư trú, tính tình và lối sống khác biệt nhau. Ông thì về Đài Loan không trở lại Việt Nam, còn bà Hà Thị Mỹ T thì ở lại Việt Nam, vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau nữa, cũng không thể hòa giải và hàn gắn lại được nên đã ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên ông đồng ý ly hôn với bà Hà Thị Mỹ T.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông và bà Hà Thị Mỹ T không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 05/5/2020, bà Hà Thị Mỹ T có Đơn khởi kiện về việc ly hôn. Do ông Weng, Yu-P đang cư trú tại Đài Loan, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tố tụng: Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hai bên thuận tình ly hôn nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hà Thị Mỹ T, cụ thể như sau:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Mỹ T và ông Weng, Yu-P thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Hà Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  6. Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo là 15 ngày đối với đương sự trong nước và 01 tháng đối với đương sự ở nước ngoài kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- Cục THADS TP.HCM;
- UBND huyện D, tỉnh N;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Võ Thị Mỹ Hạnh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1555/2020/HNGĐ-ST ngày 22/09/2020 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1555/2020/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/09/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger