Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1552/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/9/2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Khê

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trần Đăng Vạn
  • - Ông Mai Thanh Giàu

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia

phiên toà: Bà Trần Võ Hồng Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2024 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 7042/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 00 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Thị Bé S, sinh năm: 1998

Địa chỉ: ấp S, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang

Bị đơn: ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1992

Địa chỉ: Hẻm E, đường số A, tổ F, khu phố T, phường T, thành phố T,

Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Thị Bé S trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn V sống với nhau từ năm 2017 và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2017 ngày 05/9/2017

Sau ngày cưới chúng tôi sống chung tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chung sống lúc đầu hạnh phúc về sau không hạnh phúc do tính tình hai vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ.

Hiện nay tình cảm rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng không thể hàn gắn đoàn tụ được, tôi xin dứt khoát ly hôn với ông Nguyễn Văn V.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 01/02/2018 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 15/10/2021

Tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu ông Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000 đồng/01 trẻ/tháng đến khi các trẻ lần lượt đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Văn V không đến Tòa án, không gửi bản tự khai hay bất cứ tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Thị Bé S xin vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn V vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, cấp, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Thị Bé S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Văn V và bà Thị Bé S tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 69/2017 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 05/9/2017). Nay bà Thị Bé S khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn V, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Thị Bé S và ông Nguyễn Văn V đều có quốc tịch Việt Nam. Kết quả xác minh tại Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định bị đơn ông Nguyễn Văn V hiện đang cư trú tại địa chỉ Hẻm E, Đường số A, Tổ F, khu phố T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn xác định Bà và ông Nguyễn Văn V không còn hạnh phúc do tính tình vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ. Nay Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.

Bị đơn ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ nhưng ông Nguyễn Văn V vắng mặt, không tham dự các buổi hòa giải, làm việc, công khai chứng cứ cũng như không tham dự phiên tòa.

Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà Thị Bé S và ông Nguyễn Văn V chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2017 ngày 05/9/2017 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Giữa bà Thị Bé S và ông Nguyễn Văn V trên thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Bà Thị Bé S và ông Nguyễn Văn V do tính cách không hợp nhau dẫn tới thường xuyên cãi vả, gây gổ làm cho cuộc sống hôn nhân mất hạnh phúc. Bị đơn, ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham dự các buổi hòa giải, làm việc cũng như dự phiên tòa hôm nay nhưng ông Nguyễn Văn V không đến, thể hiện thái độ buông bỏ, không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà Thị Bé S. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Thị Bé S và ông Nguyễn Văn V đã rạn nứt không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.

- Về con chung: nguyên đơn xác định Bà và ông Nguyễn Văn V có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 01/02/2018 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 15/10/2021. Hiện 02 trẻ Nguyễn Thị Như H, Nguyễn Thị Yến N đang sống chung với mẹ là bà Thị Bé S. Nay bà Thị Bé S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ Nguyễn Thị Như H, Nguyễn Thị Yến N, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Như H, Nguyễn Thị Yến N cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về mức cấp dưỡng: Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng/01 trẻ đến khi các trẻ lần lượt đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy mức cấp dưỡng như trên là phù hợp với tình hình kinh tế tại địa phương, đảm bảo cho việc nuôi dưỡng 02 trẻ cho đến khi trưởng thành nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

- Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung; bị đơn không có yêu cầu phản tố về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016

Xử:

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thị Bé S với ông Nguyễn Văn V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2017 ngày 05/9/2017 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Nguyễn Văn V và bà Thị Bé S không còn giá trị pháp lý.

Về con chung:

có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như H, sinh ngày 01/02/2018 và Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 15/10/2021.

Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Như H, Nguyễn Thị Yến N cho bà Thị Bé S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng/01 trẻ đến khi các trẻ lần lượt đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom, chăm sóc con chung để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Kể từ ngày bà Thị Bé S có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Văn V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Về tài sản chung và nợ chung:

Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Thị Bé S phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Thị Bé S đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 592 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Thủ Đức. Bà Thị Bé S đã nộp đủ án phí.

Án phí cấp dưỡng nuôi con là: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Văn V chịu. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPTĐ;
  • - THADS TPTĐ;
  • - Đương sự
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Khê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1552/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1552/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Thị Bé S khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn V, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger