|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1551/KDTM-ST
Ngày: 24/4/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Cửu Long
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2023/TLST-KDTM ngày 12 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1497/2024/QĐXXST-DS ngày 25/3/2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty TNHH T
Địa chỉ: Số D đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Minh P (có mặt)
Địa chỉ: Số C F Đường số G, Khu phố A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bị đơn: Công ty Cổ phần N
Trụ sở: Số C Đường số C, Khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Xuân D, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số B Đường D, khu dân cư N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và Công ty TNHH T có ông Dương Minh P là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 01/03/2021, Công ty Cổ phần N và Công ty TNHH T ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 0103/2021/HĐNT/SHP-NPV (Sau đây gọi tắt là "Hợp đồng"). Theo đó, Công ty T Phố là Bên bán có nghĩa vụ giao hàng theo đơn đặt hàng của Công ty N là Bên mua thông qua văn bản hoặc E và Công ty N có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng cho Công ty T Phố theo từng đơn hàng cụ thể - giá cả xác định theo từng đơn đặt hàng. Tại Điều IV Hợp đồng, các bên thỏa thuận Bên mua sẽ thanh toán 100% giá trị từng đơn đặt hàng trong vòng 30 ngày kể từ ngày giao hàng. Nếu bên mua chậm thanh toán nghĩa vụ trả tiền sẽ phải chịu lãi suất 0.05%/ngày chậm thanh toán. Ngày 31/5/2023, theo Biên bản đối chiếu công nợ tính đến ngày 31/5/2023, Công ty Cổ phần N đã xác nhận hạn thanh toán đối với từng đợt giao hàng với Công ty TNHH T, tổng số tiền hàng chưa thanh toán là 813.507.115 đồng. Sau khi đối chiếu công nợ cho đến nay, Công ty Cổ phần N đã thanh toán thêm 80.000.000 đồng cho Công ty TNHH T vào ngày 30/6/2023 và ngày 05/0/2023. Sau buổi làm việc tại Tòa án ngày 06/12/2023 đến nay Công ty cổ phần N vẫn chưa có động thái để trả nợ cho nguyên đơn. Tính đến ngày 19/3/2024, Công ty Cổ phần N còn nợ Công ty TNHH T Phố tổng số tiền 1.135.185.326 đồng, trong đó: Nợ gốc là 733.507.115 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 401.678.211 đồng.
Do đó, Công ty TNHH T khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty cổ phần N thanh toán cho Công ty tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 19/3/2024 là 1.135.185.326 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 733.507.115 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 401.678.211 đồng. Ngoài ra, Công ty cổ phần N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ dư nợ.
Bị đơn - Công ty Cổ phần N có đơn xin vắng mặt, tại bản tự khai và biên bản làm việc ngày 06/12/2023, người đại diện theo pháp luật - ông Lâm Xuân D có ý kiến như sau:
Công ty Cổ phần N xác nhận có ký với Công ty TNHH T Phố Hợp đồng nguyên tắc số 0103/2021/HĐNT/SHP-NPV. Ngày 31/5/2023, Công ty Cổ phần N và Công ty TNHH T có ký biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ, theo đó Công ty Cổ phần N xác nhận còn nợ Công ty TNHH T Phố tổng số tiền là 813.507.115 đồng. Sau đó, Công ty Cổ phần N đã thanh toán thêm 80.000.000 đồng cho Công ty T. Do đó, tính đến ngày 06/12/2023 Công ty N chỉ còn nợ Công ty T Phố số tiền là 733.507.115 đồng.
Tháng 01/02/2024 thanh toán từ 100.000.000 đồng – 150.000.000 đồng
Tháng 01/03/2024 thanh toán từ 100.000.000 đồng – 150.000.000 đồng
Tháng 01/05/2024 thanh toán từ 100.000.000 đồng – 150.000.000 đồng
Tháng 01/08/2024 thanh toán từ 100.000.000 đồng – 150.000.000 đồng
Tháng 01/11/2024 thanh toán dứt điểm phần còn lại .
Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn yêu cầu Công ty Cổ phần N phải thanh toán số tiền nợ chưa trả tính tới ngày xét xử sơ thẩm 24/4/2024 với tổng số tiền 1.148.388.454 đồng, trong đó: Nợ gốc là 733.507.115 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 414.881.339 đồng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật nhưng còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên cần rút kinh nghiệm.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Công ty TNHH T tranh chấp yêu cầu Công ty Cổ phần N, địa chỉ trụ sở chính: Số C Đường số C, Khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thanh toán số tiền hàng hóa theo Hợp đồng nguyên tắc số 0103/2021/HĐNT/SHP-NPV ngày 31/3/2021. Đây là tranh chấp giữa phát sinh giữa các pháp nhân và nhằm mục đích sinh lợi nên là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự .
Bị đơn có trụ sở tại Thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn có mặt. Người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Lâm Xuân D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung tranh chấp
[3.1] Nguyên đơn Công ty TNHH T khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty cổ phần N thanh toán cho Công ty tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 24/4/2024 là 1.148.388.454 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 733.507.115 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 414.881.339 đồng. Ngoài ra, Công ty cổ phần N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ dư nợ. Hội đồng xét xử xét thấy:
Công ty TNHH T hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Mã số doanh nghiệp: 0315613176 . Đăng ký lần đầu ngày 05/4/2019, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 15/11/2021 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp.
Công ty Cổ phần N hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp Công ty Cổ phần, Mã số doanh nghiệp C đăng ký lần đầu: ngày 17/01/2011; Đăng ký thay đổi lần thứ 5, ngày 07/01/2022 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H
Ngày 01/03/2021, Công ty Cổ phần N và Công ty TNHH T ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 0103/2021/HĐNT/SHP-NPV về việc việc mua bán hàng hóa. Như vậy, hợp đồng được ký là phù hợp với chức năng ngành nghề đăng ký kinh doanh của cả hai bên, nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Căn cứ vào Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ, hai bên ký biên bản đối chiếu công nợ xác định Công ty Cổ phần N còn nợ tổng số tiền hàng chưa thanh toán là 813.507.115 đồng.
Công ty Cổ phần N đã thanh toán thêm 80.000.000 đồng cho Công ty TNHH T vào ngày 30/6/2023 và ngày 05/09/2023.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Lâm Xuân D cũng xác nhận số tiền còn lại chưa thanh toán và đề nghị được trả dần trong năm 2024. Tuy nhiên, sau buổi làm việc ngày 06/12/2023, Công ty Cổ phần N không có thanh toán theo tiến độ mà ông D đưa ra.
Do đó, căn cứ Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại 2005 thì yêu cầu của Công ty TNHH T về việc buộc Công ty Cổ phần N phải thanh toán số tiền còn nợ 733.507.115 đồng là có cơ sở nên chấp nhận.
[3.2] Về lãi suất:
Công ty TNHH T Phố tính lãi phạt và lãi chậm trả bằng lãi suất ngân hàng từ khi Công ty Cổ phần N chậm thanh toán vào ngày 01/01/2021 cho đến khi thực tế trả hết công nợ với lãi suất theo lãi suất 0,05%/ ngày cho mỗi ngày chậm thanh toán. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Căn cứ theo Điều VI của Hợp đồng, Công ty TNHH T có quyền yêu cầu tính lãi chậm thanh toán với lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi Công ty Cổ phần N thực tế trả hết công nợ với lãi suất theo lãi suất 0,05%/ngày (tương đương với 18,25%/năm) là phù hợp với Điều 357, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
Như vậy, Công ty Cổ phần N phải có nghĩa vụ phải thanh toán cho Công ty TNHH T số tiền nợ gốc chưa thanh toán là 733.507.115 đồng và tiền lãi suất chậm thanh toán, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/4/2024) là 414.881.339 đồng, với tổng số tiền 1.148.388.454 đồng. Công ty cổ phần N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ dư nợ.
[4] Về án phí:
Công ty TNHH T không phải chịu án phí
Công ty Cổ phần N phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Ghi nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thủ tục thông báo các văn bản tố tụng giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và về việc rút kinh nghiệm do vụ án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp quy định của pháp luật nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 50, Điều 85, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T:
Buộc Công ty Cổ phần N phải có nghĩa vụ phải thanh toán Công ty TNHH T tổng cộng số tiền 1.148.388.454 đồng (Một tỷ một trăm bốn mươi tám triệu ba trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi bốn đồng); trong đó tiền nợ gốc là 733.507.115 đồng và tiền lãi suất chậm thanh toán, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/4/2024 ) là 414.881.339 đồng.
Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng nguyên tắc số 0103/2021/HĐNT/SHP-NPV ngày 31/3/2021.
-
Về án phí:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Công ty N phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 46.451.645 đồng ( Bốn mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng). Công ty Cổ phần N chưa đóng án phí.
Hoàn trả Công ty TNHH T Phố số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.821.850 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0005635 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Công ty TNHH T Phố có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty Cổ phần N, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 1551/KDTM-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 1551/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
