Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/DS-PT

Ngày: 31 - 7 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ

Ông Cao Xuân Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Từ ngày 25 đến ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 228/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 224/2023/QĐ-PT ngày 13/12/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2023/QĐ-PT ngày 29/12/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 09/2024/QĐ-PT ngày 16/01/2024, Thông báo về thời gian địa điểm mở phiên tòa số 76/2024/TB-TA ngày 23/5/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian địa điểm mở phiên tòa số 81/2024/TB-TA ngày 07/6/2024, Thông báo về thời gian địa điểm mở phiên tòa số 94/2024/TB-TA ngày 01/7/2024, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Thanh L, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông L:

  • - Bà Phan Thị Minh H, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ D, khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  • - Ông Trần Văn N, sinh năm 1995; địa chỉ: A T, T, T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trịnh Văn P, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Vũ Đình T, sinh năm 1972 và bà Phan Thị Minh H, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ D, khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
  • - Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ A, ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Ông K có mặt, bà T2 vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Ông Trương Ngọc Ẩ, sinh năm 1973; Thường trú: 198 Phạm Văn Đ, tổ A, khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

  • - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Khu phố N, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn Viết C; địa chỉ: Khu phố M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
  • - Bà Trần Thị Hồng D, sinh năm 1969 và ông Nguyễn Anh T3, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ E, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Ông Phan Thanh L là nguyên đơn và ông Nguyễn Văn K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 13/11/2014, ông Phan Thanh L và ông Vũ Đình T, bà Phan Thị Minh H (con gái ông L) có ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa số 361, tờ bản đồ 03, ngang 8,5m, dài 104m, diện tích 886m², loại đất trồng cây lâu năm (đến năm 2016 thì được nhà nước cấp cho 300m² đất thổ cư), tại tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ là thị trấn P, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ638764 do UBND huyện T cấp ngày 30/9/2014. Tại thời điểm giao dịch, giữa ông Phan Thanh L và ông Vũ Đình T, bà Phan Thị Minh H có nhận bàn giao và kiểm tra mốc giới bằng cột bê tông do ông T và bà H bàn giao (ngoài ra không còn ai khác).

Vị trí lô đất: Phía đông giáp đất ông Trịnh Văn P, phía tây giáp đất của anh T và anh C. Trong đó thửa đất của ông P chưa xây dựng công trình kiến trúc trên đất. Sau khi nhận tặng cho, ông L chưa có nhu cầu nên không xây dựng công trình kiến trúc gì trên đất.

Ngày 28/11/2014, ông L thực hiện thủ tục điều chỉnh biến động tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P.

Năm 2015, khi ông P xây nhà trên đất thì ông L, anh Vũ Đình T có liên hệ anh P để yêu cầu kiểm tra mốc giới trước khi xây dựng để tránh việc tranh chấp sau này. Phía anh P đã cam đoan xây dựng đúng vị trí đất. Do chủ quan nên ông L không kiểm tra mốc giới theo đúng sơ đồ nên không biết là anh P đã xây chồng lấn lên đất.

Ngày 14/01/2018, do ông L có nhu cầu xây dựng nhà ở nên có thuê Công ty TNHH Đ1 đo đạc thì phát hiện đất thiếu do ông P xây nhà lấn chiếm, diện tích bị lấn chiếm là 433,8m² (có 150m² đất ở); chiều rộng trước là 4,78m, mặt sau 3,72m; chiều dài toàn thửa là 105m. Ông L và ông T, bà H có thông báo ông P việc lấn chiếm và yêu cầu trả đất nhưng ông P không đồng ý.

Nay ông Phan Thanh L yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  • - Buộc ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 phải trả lại cho ông Phan Thanh L phần đất bị lấn chiếm có diện tích 433,8m² (trong đó có 150m² đất ở); chiều rộng trước là 4,78m, mặt sau 3,07m; chiều dài toàn thửa là 105m.
  • - Buộc ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng đã lấn chiếm trên phần đất trên.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện theo uỷ quyền của ông L giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đồng ý hỗ trợ chi phí di dời công trình vật kiến trúc có trên đất.

* Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Trịnh Văn P trình bày:

Thửa đất số 256, tờ bản đồ 03, diện tích 629m², thuộc tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nguồn gốc do ông Trần H2 khai phá. Sau đó ông H2 ký hợp đồng tặng cho anh Trần Viết H3, là con ông H2.

Năm 2011, vợ chồng ông P, bà T1 ký nhận chuyển nhượng của ông Trần Viết H3 thửa đất trên với giá 250.000.000 đồng.

Ngày 08/7/2011, ông P, bà T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 512715 ngày 08/7/2011.

Quá trình bàn giao đất, giữa ông P, bà T1 và ông H3 có bàn giao các mốc giới gồm 04 cột mốc bằng bê tông đúng theo vị trí hiện trạng sử dụng như hiện nay. Việc bàn giao mốc giới có ông Nguyễn Văn K giáp ranh chứng kiến. Thời điểm ông P, bà T1 nhận chuyển nhượng thì thửa đất giáp ở hai bên với thửa đất của ông để trống.

Năm 2015, ông P, bà T1 thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất lên 100m² thổ cư và tiến hành xây dựng nhà cấp 3 trên đất. Khi xây dựng ông P, bà T1 chỉ xây đúng vị trí đã nhận chuyển nhượng có sự chứng kiến của ông H3, ông K và ông N1 – cán bộ địa chính cũng đã xác định ông bà xây dựng nhà đúng mốc giới. Từ khi xây dựng cho đến năm đầu năm 2018, ông P, bà T1 không có phát sinh tranh chấp với ai.

Đến khoảng tháng 03/2018, ông Phan Thanh L có đơn khởi kiện tranh chấp đất với ông P, bà T1. Tuy nhiên ông P, bà T1 không đồng ý vì thửa đất ông P, bà T1 nhận chuyển nhượng có nguồn gốc rõ ràng, được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và cho phép xây dựng. Sau khi ông L có đơn kiện, ông P, bà T1 đã liên hệ Phòng tài nguyên môi trường huyện T vào kiểm tra đo đạc thì được trả lời đất xây dựng đúng mốc giới và đủ diện tích; phía ông K, ông H3 cũng xác định đất đúng vị trí không có lấn chiếm của ai. Vì vậy ông P, bà T1 xác định không lấn chiếm đất của ông L, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh L và đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Nhất trí với lời trình bày của ông Trịnh Văn P và không bổ sung gì thêm.

* Tại đơn yêu cầu độc lập và quá trình tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị T2 trình bày: Vào năm 2002 và 2006, ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị T2 có nhận chuyển nhượng đối với diện tích đất 826m² thuộc thửa đất số 373 tờ bản đồ số 03 và diện tích đất 1535m² tại thửa đất số 293 tờ bản đồ số 03 tại thôn Q, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của ông Trần Viết H3 và bà Nguyễn Thị H1. Ông K đã giao tiền và bên chủ đất đã tiến hành bàn giao đất tại thực địa cho ông. Quá trình đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Phòng Địa chính – Nông nghiệp và Văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất thuộc UBND huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kiểm tra, đo đạc và xác nhận sơ đồ vị trí các thửa đất. Từ thời điểm đó đến nay, ông, bà vẫn quản lý, sử dụng đất, trồng cây tràm không xảy ra tranh chấp với ai.

Đến năm 2011, khi ông Trần Viết H3 và bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng thửa đất số 256, tờ bản đồ số 03 (tiếp giáp với đất của ông K) cho ông Trịnh Văn P có mời ông ra chỉ ranh mốc giữa hai thửa đất. Các bên đã xác định ranh mốc toạ độ thực tế sử dụng nên sau đó ông P đã xây dựng nhà trên đất. Từ thời điểm đó đến nay, ông K và ông P không có tranh chấp.

Tuy nhiên đến hiện tại ông K mới được biết rằng 01 phần diện tích đất của ông K quản lý sử dụng nằm trong thửa đất số 256, tờ bản đồ số 03 và đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 512715 ngày 08/07/2011 cho ông Trịnh Văn P.

Vì vậy ông K có yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Đề nghị ông Trịnh Văn P phải trả lại lại cho ông K diện tích đất 426,6m² thuộc một phần thửa đất số 256, tờ bản đồ số 03 tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời thực hiện thủ tục điều chỉnh phần diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P sang tên ông K.
  • Đề nghị Tòa án công nhận cho ông K được quyền sử dụng đối với diện tích đất 426,6m² thuộc một phần thửa đất số 256, tờ bản đồ số 03 tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có tọa độ (8, 6, B, A, 8) theo bản vẽ ngày 07/09/2018 của Trung tâm K1 – Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Đình T và bà Phan Thị Minh H trình bày: Ngày 18/9/2014, vợ chồng ông Vũ Đình T, bà Phan Thị Minh H và vợ chồng bà Trần Thị Hồng D tiến hành chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 361 tờ bản đồ số 03. Khi bàn giao đất, phía bà D có chỉ cho ông T vị trí thửa đất trên được xác định bởi 4 cọc bằng cây gỗ. Sau khi tiến hành xong thủ tục chuyển nhượng ông T có cắm thêm 4 cây cọc xi măng liền sát cây cọc gỗ.

Đến ngày 13/11/2014, ông T, bà H ký hợp đồng tặng cho thửa đất trên cho ông Phan Thanh L. Khi bàn giao đất, ông T, bà H có chỉ cho ông L các mốc giới đúng như bà D đã bàn giao và theo đúng ranh cấp giấy.

Đến năm 2015, ông L có thông báo cho T, bà H biết có ông Trịnh Văn P xây nhà vào thửa đất trên. Vì vậy ông T, ông L có xuống kiểm tra hiện trạng, tuy nhiên do thời điểm này thửa đất đã bị đào bới xây dựng công trình nên dẫn đến không còn ranh mốc trên đất dẫn đến ông T không xác định được vị trí thửa đất. Sau đó ông T, ông L có gặp ông P đề nghị kiểm tra lại ranh mốc toạ độ trước khi xây dựng nhằm tránh xảy ra tranh chấp. Tuy nhiên phía ông P cam đoan việc xây dựng có giấy phép và khi xây dựng được nhân viên Phòng Tài nguyên Môi trường huyện T xuống xác định ranh giới. Do ông T, ông L chủ quan, tin tưởng việc ông P cam đoan nên đã không cho tiến hành kiểm tra ranh mốc tại thực địa.

Đến năm 2018, khi ông L có nhu cầu xây dựng nhà ở thì mới phát hiện sự việc ông P đã xây dựng nhà lấn chiếm vào thửa đất 361, tờ bản đồ số 03 với diện tích 433,8m². Ông T, bà H, ông L nhiều lần thuyết phục ông P thương lượng trả đất nhưng phía ông P không đồng ý dẫn đến các bên phát sinh tranh chấp.

* Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Hồng D trình bày: Nguyên bà Trần Thị Hồng D là chủ sử dụng đối với thửa đất số 361 tờ bản đồ số 03 có nguồn gốc là do cha ruột, ông Trần Huynh t cho. Đến năm 2014, bà D và chồng là ông Nguyễn Anh T3 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Vũ Đình T, bà Phạm Thị Minh H4. Khi tiến hành bàn giao đất, bà D là người trực tiếp chỉ ranh mốc, chỉ cọc cho ông T, bà H4 và các bên không có tranh chấp gì.

- Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà Nguyễn Thị H1 và ông Trần Viết H3 là vợ chồng, ông Trần Viết H3 đã chết ngày 20/07/2018. Bà H1 không quen biết gì ông Phan Thanh L, ông Trịnh Văn P.

Thửa đất số 256 (thửa đất cũ), tờ bản đồ số 03 có nguồn gốc do ông Trần H2 (là bố ông H3), tặng cho ông H3 từ năm 1996-1997; sau đó đất đã được ông H3 đứng tên và sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai. Do thời gian lâu nên bà H1 không nhớ chính xác ông H3 được cho diện tích là bao nhiêu. Từ khi ông H3 được tặng cho đất đến khi chuyển nhượng thì vợ chồng bà H1 sử dụng ổn định, không có tranh chấp với ai, không bị nhà nước thu hồi, hay bị quy hoạch.

Sau đó ông H3 tách thửa và bán cho một số người. Bà H1 cũng không nắm được cụ thể quá trình mua bán chuyển nhượng giữa các bên. Đến ngày 24/5/2011, ông H3 và bà H1 chuyển nhượng cho ông Trịnh Văn P thửa đất số 256 (thửa mới), tờ bản đồ số 3, tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên bà H1 không nhớ rõ lô đất chuyển nhượng có diện tích, giá cả bao nhiêu và các mốc giới cụ thể của lô đất. Đồng thời thực tế thì chỉ có ông H3 là người biết cụ thể vị trí lô đất, còn bà H1 không biết cụ thể và chỉ đứng ra ký công chứng mua bán cho ông P.

Nay ông Phan Thanh L và ông Trịnh Văn P có tranh chấp quyền sử dụng đất thì bà H1 có ý kiến: Do ông Trần Viết H3, ông Trần H2 đều đã chết nên bà H1 không nắm được nội dung tranh chấp, việc tranh chấp giữa ông L và ông P nên căn cứ giấy tờ pháp lý Nhà nước công nhận cho từng người để xác định ai lấn ai. Riêng vợ chồng bà H1 đã chuyển nhượng hợp pháp cho ông Trịnh Văn P, hai bên đã bàn giao giấy tờ và bàn giao mốc giới đúng diện tích, ông P đã nhận đất đủ diện tích và mốc giới.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ đã quyết định như sau:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh L đối với ông Trịnh Văn P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Nguyễn Văn K đối với ông Trịnh Văn P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

2. Buộc ông Trịnh Văn P phải trả cho ông Phan Thanh L số tiền 1.429.400.000 đồng.

3. Công nhận ông Trịnh Văn P được quyền sử dụng đối với phần thửa đất có diện tích 408,4m², đất trồng cây lâu năm thuộc một phần thửa đất số 361, tờ bản đồ 03, toạ lạc phường P, thị xã P. Đất có chiều ngang 4,78 m, chiều dài 105,93 toạ độ 11, 12, 13, 14, 5, 9, 11.

Ông Trịnh Văn P có trách nhiệm, nghĩa vụ làm thủ tục biến động, hợp thửa đối thửa đất trên vào thửa đất số 256, tờ bản đồ 03, toạ lạc phường P, thị xã P, với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự quy định của pháp luật.

Ông Phan Thanh L có trách nhiệm, nghĩa vụ làm thủ tục biến động, tách thửa đối với một phần thửa đất số 361, tờ bản đồ 03, có toạ độ: 14A, 11, 9, 10, 2, 3, 14A toạ lạc phường P, thị xã P, với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự quy định của pháp luật.

Ông Phan Thanh L và ông Trịnh Văn P có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục điều chỉnh biến động, hợp thửa, tách thửa tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp một bên không phối hợp thực hiện, bên còn lại có quyền tự mình thực hiện các thủ tục trên theo Luật định.

(Toạ độ vị trí thửa đất thể hiện tại Sơ đồ đo vẽ được đính kèm theo Bản án)

4. Các vấn đề khác: Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 21/3/2023 cho đến khi có quyết định, bản án có hiệu lực của Toà án có thẩm quyền.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp khẩn cấp tạm thời, chi phí tố tụng, nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

* Ngày 08/6/2023 ông Phan Thanh L kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu ông P trả lại hiện trạng ban đầu mà ông P lấn chiếm đất của ông L để xây dựng nhà và công trình trên đất.

* Ngày 20/6/2023 ông Nguyễn Văn K kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án dân sự sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, thay đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, yêu cầu ông P, bà T1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản của ông P, bà T1 trên đất tranh chấp và trả lại đất cho ông L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K rút yêu cầu độc lập. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn K: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn K rút yêu cầu độc lập trong vụ án, nguyên đơn và bị đơn đồng ý việc rút yêu cầu độc lập của ông K, đề nghị Hội đồng xét xử hủy và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của ông K.

- Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh L: Có căn cứ xác định ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 sử dụng lấn phần đất của ông Phan Thanh L diện tích đất 401,3m² thửa 361, tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Buộc ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gắn liền với đất để trả lại cho ông Phan Thanh L quyền sử dụng đất diện tích 401,3m² thửa 361, tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phan Thanh L về việc hỗ trợ cho ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 số tiền 500.000.000 đồng chi phí tháo dỡ di dời tài sản trên đất tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Thanh L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K.

[1] Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K: Ông Nguyễn Văn K có yêu cầu độc lập, yêu cầu ông Trịnh Văn P phải trả lại lại cho ông K diện tích đất 426,6m² thuộc một phần thửa đất số 256, tờ bản đồ số 03 tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đồng thời thực hiện thủ tục điều chỉnh phần diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P sang đứng tên ông K; Đề nghị Tòa án công nhận cho ông Nguyễn Văn K được quyền sử dụng đối với thửa đất diện tích đất 426,6m² thuộc một phần thửa đất số 256, tờ bản đồ số 03 tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có tọa độ (8, 6, B, A, 8) theo bản vẽ ngày 07/09/2018 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn K rút yêu cầu độc lập trong vụ án, nguyên đơn và bị đơn đồng ý việc rút yêu cầu độc lập của ông K, căn cứ Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự, hủy và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của ông K.

[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về nguồn gốc đất thửa số 361 và thửa số 256, tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Thửa đất số 361, tờ bản đồ số 03, diện tích 888,6m², phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nguồn gốc do ông Vũ Đình T và bà Phan Thị Minh H nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Anh T3 và bà Trần Thị Hồng D vào ngày 18/9/2014; ngày 13/11/2014 ông Vũ Đình T và bà Phan Thị Minh H ký hợp đồng tặng cho ông Phan Thanh L, xác nhận sang tên ông L ngày 28/11/2014.

Thửa đất số 256, tờ bản đồ số 03, diện tích 629m², phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nguồn gốc thuộc một phần thửa cũ 256, tờ bản đồ 03, diện tích 3070m² do ông Trần H2 (đã chết) chuyển nhượng cho ông Trần Viết H3 (là con của ông H2, đã chết) vào năm 1999, ông H3 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P809825 ngày 09/01/2001. Ngày 24/5/2011, ông Trần Viết H3 và bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng cho ông Trịnh Văn P, ông P được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 512715 ngày 08/7/2011.

Theo sơ đồ vị trí ngày 31/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1 thì diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 361 giữa ông L và ông P là 408,4m²; Theo sơ đồ vị trí ngày 22/4/2024 (chỉnh sửa ngày 22/7/2024) của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1 thì diện tích đất tranh chấp thửa 361 giữa ông L và ông P là 401,3m². Tại Văn bản số 180/TTKT-ĐĐBĐ1 ngày 17/7/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1 thì sơ đồ vị trí ngày 31/3/2023 được biên vẽ theo yêu cầu của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, các vị trí công trình xây dựng chỉ thể hiện tương đối; sơ đồ vị trí ngày 22/4/2024 được đo vẽ hiện trạng và chi tiết công trình theo yêu cầu của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên có độ chính xác cao hơn. Do vậy căn cứ sơ đồ vị trí ngày 22/4/2024 (chỉnh sửa ngày 22/7/2024) của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1 để giải quyết.

Theo Công văn số 886/CNVPĐKĐĐ - KTĐC ngày 24/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P và tại phiên toà sơ thẩm xác nhận ranh hiện trạng các thửa đất số 361, 256, 373, 293 không trùng khớp với ranh giới bản đồ số hoá năm 2008.

Theo trích lục Bản đồ địa chính ngày 01/12/1999 của Phòng địa chính huyện T và Bản đồ địa chính ngày 10/10/2002 mô tả hiện trạng của thửa đất số 256 cũ, tờ bản đồ số 03 có diện tích 3070m² trùng khớp với Bản đồ địa chính ngày 10/10/2002.

Căn cứ sơ đồ vị trí ngày 22/4/2024 (chỉnh sửa ngày 22/7/2024) của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1 thì ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 sử dụng lấn diện tích đất 401,3m² thuộc thửa số 361, tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc quyền sử dụng của ông Phan Thanh L.

Việc ông Trịnh Văn P, bà Nguyễn Thị T1 xác định không đúng ranh mốc địa chính, sử dụng không đúng vị trí đất đất thửa 256 và lấn một phần thửa đất số 361 diện tích 401,3m² thuộc quyền sử dụng của ông Phan Thanh L là vi phạm quy định tại Điều 170 Luật đất đai và Điều 175 Bộ luật dân sự.

Theo quyết định số 44/2023/QĐ-UBND ngày 19/9/2023 của UBND tỉnh B thì điều kiện tách thửa đất có cạnh tiếp giáp với đường giao thông do Nhà nước quản lý không nhỏ hơn 5m. Phần còn lại của thửa đất 361 (phần đất 361/1 - sơ đồ vị trí ngày 22/4/2024, chỉnh sửa ngày 22/7/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1) có cạnh tiếp giáp đường là 3,61m không đủ kích thước tách thửa theo quy định. Do vậy yêu cầu của ông Phan Thanh L yêu cầu ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 tháo dỡ di dời tài sản trên phần đất lấn chiếm là 401,3m² thuộc thửa số 361, tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để trả lại đất cho ông L là có căn cứ.

Tài sản của ông P, bà T1 trên đất tranh chấp gồm:

Nhà và kiến trúc: 01 căn nhà 02 tầng diện tích 66,4m² x 02 tầng và nhà vệ sinh (WC) diện tích 10,9m²; Mái che diện tích 38,6m²; sân lát gạch (s2) diện tích 15,2m²; sân lát gạch (s1) diện tích 21,1m²; 01 căn nhà 01 tầng loại 3 diện tích 49,4m²; hàng rào móng đá xây gạch một phần có lưới B40 trụ sắt tọa độ 8b, 2, 3, 4; hàng rào xây gạch; 02 trụ cổng và cổng; 01 giếng đóng (khoan) + máy bơm + khung bảo vệ; 01 chuồng chó; 01 đồng hồ nước.

Cây trồng: 01 cây mít loại C; 01 cây đu đủ loại C; 02 cây mai đường kính 05cm; 02 cây khế loại B; 01 cây mận đường kính 5cm; 01 cây dâu tằm (dâu ăn trái) 5 năm tuổi; 03 cây mãng cầu na 02 năm tuổi; 01 cây chanh đường kính 3cm; 03 cây sưa đường kính 5cm; 01 cây bưởi 03 năm tuổi; 03 cây thanh trà 03 năm tuổi; 03 cây xoài 03 năm tuổi; 01 cây táo 3 năm tuổi; 06 cây chuối nhỏ cao dưới 1,5m; 02 cây dứa nhỏ chưa ra quả; 02 cây lê ki ma 02 năm tuổi; 01 cây ổi 03 năm tuổi; 01 cây vối đường kính trên 10cm; 01 cây bông giấy đường kính trên 5cm; 01 cây sa pô chê 03 năm tuổi.

Từ nhận định trên, chấp nhận kháng cáo của ông Phan Thanh L. Sửa một phần bản án sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh L, buộc ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp 401,3m² thuộc thửa số 361, tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Phan Thanh L.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phan Thanh L tự nguyện hỗ trợ cho ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 về việc di dời tài sản trên đất tranh chấp với số tiền 500.000.000 đồng. Sự tự nguyện của ông L phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận.

[3] Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm là 31.700.000 đồng, ông Phan Thanh L nộp tạm ứng 11.700.000 đồng, ông Nguyễn Văn K nộp tạm ứng 20.000.000 đồng:

[3.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Trịnh Văn P phải chịu. Ông P có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Thanh L số tiền 11.700.000 đồng.

[3.2] Ông Nguyễn Văn K phải chịu 20.000.000 đồng. Đã nộp xong.

[4] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tại Tòa án cấp phúc thẩm là 10.000.000 đồng: Nguyên đơn tự nguyện chịu. Đã nộp xong.

[5] Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 21/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp”.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm:

[6.1] Yêu cầu của ông Phan Thanh L được chấp nhận nên ông Trịnh Văn P phải chịu 300.000 đồng.

[6.2] Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 đồng.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Thanh L được chấp nhận nên ông Phan Thanh L không phải chịu; ông Nguyễn Văn K được miễn do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Thanh L; không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K. Hủy và đình chỉ một phần bản án, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:

Căn cứ các Điều 147, 157, 165, 299, các khoản 2, 4 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 164, 175 của Bộ luật dân sự; các Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 12, 26, 27, 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Hủy và đình chỉ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn K đối với ông Trịnh Văn P về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh L đối với ông Trịnh Văn P về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

2.1. Ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ tháo dỡ di dời toàn bộ công trình xây dựng, vật kiến trúc và cây trồng trên phần đất diện tích 401,3m² thuộc thửa 361 tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (phần đất 361/2 theo Sơ đồ vị trí ngày 22/4/2024, chỉnh sửa ngày 22/7/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1), gồm:

Nhà và kiến trúc: 01 căn nhà 02 tầng diện tích 66,4m² x 02 tầng và nhà vệ sinh (WC) diện tích 10,9m²; Mái che diện tích 38,6m²; sân lát gạch (s2) diện tích 15,2m²; sân lát gạch (s1) diện tích 21,1m²; 01 căn nhà 01 tầng loại 3 diện tích 49,4m²; hàng rào móng đá xây gạch một phần có lưới B40 trụ sắt tọa độ 8b, 2, 3, 4; hàng rào xây gạch; 02 trụ cổng và cổng; 01 giếng đóng (khoan) + máy bơm + khung bảo vệ; 01 chuồng chó; 01 đồng hồ nước.

Cây trồng: 01 cây mít loại C; 01 cây đu đủ loại C; 02 cây mai đường kính 05cm; 02 cây khế loại B; 01 cây mận đường kính 5cm; 01 cây dâu tằm (dâu ăn trái) 5 năm tuổi; 03 cây mãng cầu na 02 năm tuổi; 01 cây chanh đường kính 3cm; 03 cây sưa đường kính 5cm; 01 cây bưởi 03 năm tuổi; 03 cây thanh trà 03 năm tuổi; 03 cây xoài 03 năm tuổi; 01 cây táo 3 năm tuổi; 06 cây chuối nhỏ cao dưới 1,5m; 02 cây dứa nhỏ chưa ra quả; 02 cây lê ki ma 02 năm tuổi; 01 cây ổi 03 năm tuổi; 01 cây vối đường kính trên 10cm; 01 cây bông giấy đường kính trên 5cm; 01 cây sa pô chê 03 năm tuổi.

2.2. Ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Thanh L diện tích đất 401,3m² thuộc thửa 361 tờ bản đồ số 03, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (phần đất 361/2 Sơ đồ vị trí ngày 22/4/2024, chỉnh sửa ngày 22/7/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K1).

3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Phan Thanh L về việc hỗ trợ cho ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T1 số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng về việc tháo dỡ, di dời tài sản trên đất để trả lại đất cho ông L.

4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

5. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 21/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

6. Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm:

6.1. Ông Trịnh Văn P có nghĩa vụ trả lại cho ông Phan Thanh L số tiền 11.700.000 (mười một triệu bảy trăm nghìn) đồng .

6.2. Ông Nguyễn Văn K phải chịu 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Đã nộp xong.

7. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá tài sản tại Tòa án cấp phúc thẩm là 10.000.000 (mười triệu đồng): Nguyên đơn tự nguyện chịu. Đã nộp xong.

8. Án phí dân sự sơ thẩm:

8.1. Ông Phan Thanh L không phải chịu. Hoàn trả cho ông Phan Thanh L số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0001500 ngày 11/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

8.2. Ông Trịnh Văn P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

8.3. Ông Nguyễn Văn K phải chiụ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0006371 ngày 17/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đã nộp đủ.

9. Án phí dân sự phúc thẩm:

9.1. Ông Phan Thanh L không phải chịu. Hoàn trả cho ông Phan Thanh L tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0007188 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

9.2. Ông Nguyễn Văn K được miễn do là người cao tuổi.

10. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

11. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND TX Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS TX Phú Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 155/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Phan Thanh L yêu cầu Toà án giải quyết như sau: - Buộc ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T phải trả lại cho ông Phan Thanh L phần đất bị lấn chiếm có diện tích 433,8m2 (trong đó có 150m2 đất ở); chiều rộng trước là 4,78m, mặt sau 3,07m; chiều dài toàn thửa là 105m. - Buộc ông Trịnh Văn P và bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng đã lấn chiếm trên phần đất trên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger