Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2023/HS-ST

Ngày: 30-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Khánh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Thuận;

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thị Trúc L

Sinh ngày 12/12/1978, tại T, Cần Thơ;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

Nơi đăng ký thường trú: Khu vực Thới An 1, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ;

Chỗ ở: Ấp Suối Đá, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lê Văn T, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1953 (đã chết);

Em có 02 người, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1986;

Chồng Nguyễn Văn Bé C, sinh năm 1972;

Con có 02 người, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2004;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2023 đến nay

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 6 năm 2022, Lê Thị Trúc L có vay tiền của ông Nguyễn Thanh S, số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 6,5%, thời hạn vay 01 tháng. Tuy nhiên sau đó, L không có khả năng trả lãi nên xin được trả tiền gốc, lãi theo khả năng hàng tháng thì ông S đồng ý. Từ ngày 06/8/2022 đến 28/11/2022, L đã trả cho ông S số tiền 112.500.000 đồng, trong đó có 90.000.000 đồng tiền gốc và 22.500.000 đồng tiền lãi. Đến tháng 01 năm 2023 ông S yêu cầu L phải trả đủ tiền gốc còn lại, L không có tiền trả nên nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích thế chấp cho ông S để làm tin nhằm kéo dài thời gian trả tiền vay còn lại.

Ngày 08/01/2023, Lê Thị Trúc L lên mạng Internet, cung cấp thông tin để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 5.000.000 đồng. Đến ngày 12/01/2023, có nhân viên giao hàng (Shipper) đến giao 01 gói hàng, bên trong có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DE 850895, mang tên Lê Thị Trúc L, sinh năm 1978, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; thửa đất số: 1867, tờ bản đồ số: 6A; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích: 604,8m², cấp ngày 30/12/2022, L trả tiền mặt là 5.700.000 đồng. Sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả, ngày 13/01/2023 L đến Cửa hàng X tìm ông S để thế chấp, nhưng không có ông S ở nhà chỉ có chị Trần Ngọc L1 (con gái ông S) thay ông S giải quyết công việc, sau khi xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do L cung cấp, chị L1 yêu cầu phải lập Hợp đồng công chứng uỷ quyền thì L đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, L và chị L1 đến Văn phòng C1, địa chỉ tại số A đường C, khu phố A, phường D, thành phố P để lập hợp đồng. Trong quá trình tiếp nhận tài liệu, giấy tờ có liên quan thì Công chứng viên nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do L cung cấp là giả, nên trình báo lực lượng Công an thành phố P. Đến ngày 15/5/2023, Lê Thị Trúc L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường họp ít nghiêm trọng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DE 850895, mang tên Lê Thị Trúc L, sinh năm 1978, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; thửa đất số: 1867, tờ bản đồ số: 6A; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích: 604,8m², cấp ngày 30/12/2022.

Tại bản Kết luận giám định số: 161/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DE 850895, mang tên Lê Thị Trúc L, sinh năm 1978, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (mẫu cần giám định ký hiệu A) là giả.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số: 141/CT-VKSPQ ngày 15 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, truy tố bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên áp dụng khoản 1 Điều 325 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do hành vi cung cấp thông tin để làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã thu hút vào tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thị Trúc L số tiền 40.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tiếp tục bảo quản lưu, tại hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DE 850895, mang tên Lê Thị Trúc L.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc. Lời nói sau cùng của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị rút một phần quyết định truy tố bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bị cáo Lê Thị Trúc L thống nhất với việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên.

Xét thấy, bị cáo Lê Thị Trúc L không phải là người trực tiếp làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà chỉ thuê người khác qua mạng xã hội làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với mục đích sử dụng thực hiện hành vi trái pháp luật. Nên việc rút một phần quyết định truy tố của Kiểm sát viên nêu trên, là phù hợp quy định tại Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, vì không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án đối với bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Trúc L, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh K và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định:

Do không có khả năng chi trả tiền vay cho ông Nguyễn Thanh S, nên vào ngày 08/01/2023, Lê Thị Trúc L lên mạng Internet đặt làm 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nhằm mục đích thế chấp cho ông Nguyễn Thanh S để làm tin, kéo dài thời gian trả tiền vay. Đến ngày 13/01/2023, khi L đến Văn phòng C1 làm Hợp đồng uỷ quyền cho chị Trần Ngọc L1 (con ông Nguyễn Thanh S) thì bị Công chứng viên phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả, nên trình báo Công an thành phố P. Ngày 15/5/2023, Lê Thị Trúc L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

Xét thấy, hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính và xâm phạm đến sự hoạt động bình thường, uy tín của cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp, quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo chưa gây ra hậu quả và thiệt hại cho cá nhân, tổ chức nào, hành vi của bị cáo là bộc phát, chỉ với mục đích là giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để làm tin và kéo dài thời gian trả nợ cho chủ nợ, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú ổn định. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cần áp dụng hình phạt về tài chính cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận bản cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị Trúc L, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DE 850895, mang tên Lê Thị Trúc L, sinh năm 1978, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; thửa đất số: 1867, tờ bản đồ số: 6A; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích: 604,8m², cấp ngày 30/12/2022. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm của bị cáo, nên cần tiếp tục lưu giữ, bảo quản tại hồ sơ vụ án.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Đối với người đã làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho L, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Trúc L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Trúc L số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

Căn cứ Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử bị cáo Lê Thị Trúc L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, do Kiểm sát viên rút quyết định truy tố tại phiên tòa.

2. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DE 850895, mang tên Lê Thị Trúc L, sinh năm 1978, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; thửa đất số: 1867, tờ bản đồ số: 6A; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích: 604,8m², cấp ngày 30/12/2022. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm của bị cáo, nên cần tiếp tục lưu giữ, bảo quản tại hồ sơ vụ án.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Lê Thị Trúc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - CQTHAHS thành phố Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Quốc;
  • - CQCSĐT CA thành phố Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Quách Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 155/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LGTL
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger