|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2024/HS-PT Ngày 30-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Bà Vũ Thị Bích Diệp
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 110/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Viết C do có kháng cáo của cả hai bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2024/HS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Giám đốc Cônng ty TNHH xây dựng và phát triển T6; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Văn T1 và con bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Lê Thị Y và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/12/2023; có mặt.
2. Nguyễn Viết C, sinh năm 1983 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Nguyễn Văn M và con bà Trần Thị L; có vợ là Lê Thị P và có 03 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 162/HSST ngày 25/6/2002, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án về “Tội Cướp tài sản”, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 29/6/2002 (đã
xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024, đến ngày 19/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Văn T3, sinh năm 2000; địa chỉ: Xóm D, thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn T4, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị C1, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: Xóm D, thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (là bố mẹ bị hại); chị Cao Thị Ngọc T5, sinh năm 2001; địa chỉ: Xóm D, thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (là vợ bị hại); đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/11/2022, Công ty TNHH G (Công ty G), có địa chỉ tại khu công nghiệp N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng ký hợp đồng với Công ty TNHH T7 (Công ty T7), có địa chỉ tại xã D, huyện T về việc Công ty T7 nhận thực hiện công việc tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt giá hàng từ kho hàng của Công ty G đến Khu Công nghiệp N, thành phố Hải Phòng. Sau khi ký hợp đồng, ngày 02/01/2023, Công ty T7 ký hợp đồng thầu khoán với Nguyễn Văn T là Giám đốc Công ty TNHH X, có địa chỉ tại xã T, huyện T (Công ty X) để thi công những hạng mục trên với số tiền 338.264.000 đồng.
Sau khi ký hợp đồng, T rủ Nguyễn Viết C (làm nghề cơ khí tự do, không có bằng cấp, không được đào tạo liên quan đến việc giám sát, tháo dỡ thi công) làm cùng, C đồng ý. T nói với C đã ký hợp đồng thi công tháo dỡ, bốc xếp và vận chuyển khung giá hàng từ kho của Công ty G đến Khu Công nghiệp N với số tiền 130.000.000 đồng. Giữa T và C thỏa thuận: Thi công xong mà chi phí dưới định mức trên thì cả hai được hưởng tiền chênh lệch, nếu vượt quá định mức thì T sẽ là người chi trả số tiền còn thiếu, trả thêm tiền công cho C; T có tránh nhiệm thanh toán tiền công thuê máy móc, phương tiện tháo dỡ và vận chuyển, C có nhiệm vụ vừa quản lý, giám sát, trực tiếp làm việc và tìm công nhân để làm cho đạt tiến độ; T cũng tham gia chỉ đạo, giám sát công nhân tại hiện trường.
Ngày 09/01/2023, T thuê nhóm người lao động (09 người) gồm anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1995; anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1990; ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965; đều trú tại xã T, huyện T; anh Phạm Văn T3, anh Ngô Văn N, sinh năm 2000, trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; anh Bùi Văn M1, sinh năm 1996, trú tại xã A, huyện T; anh Nguyễn Xuân N1, sinh năm 1999, trú tại xã A, huyện A; anh Cà Văn V, sinh năm 1999, trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên đến Công ty G tháo dỡ vận chuyển giá hàng trong kho vào ngày 10/01/2023. Nhóm người lao động trên được T thuê không có hợp đồng lao động, không được tập huấn an toàn lao động, không có bảo hộ an toàn khi
lao động, được T trả 420.000 đồng/ngày theo ngày làm việc. T thuê 02 xe nâng để họ làm việc. Ngày 10/01/2023, khi nhóm người lao động trên đến Công ty G, C ra đón mọi người vào trong kho làm việc. Khi tháo dỡ giá hàng, C yêu cầu một người lên thùng xe nâng, điều khiển thùng xe lên cao để tháo các thanh ngang phía trên ra khỏi thanh dọc của giá hàng rồi giữ phần đầu trên của thanh dọc, những người phía dưới tháo thanh ngang dưới chân. Sau đó, người trên xe nâng hô to thì đồng loạt bốn người phía dưới kéo chân thanh dọc ra ngoài, người trên thùng xe nâng vừa giữ dầu trên của thanh dọc vừa điều khiển thùng xe nâng hạ xuống để đặt thanh dọc của giá hàng xuống đất. Anh B và anh T3 nói “trên thùng xe nâng phải có hai người, một người đỡ thanh giá hàng, một người điều khiển xe nâng lên xuống". Do thùng xe nâng nhỏ nên C bảo chỉ cần một người phía trên là được. Quá trình lao động, do B và T3 biết lái xe nâng (không có chứng chỉ điều khiển xe nâng) nên C chỉ huy, phân công cho T3 và M1 điều khiển xe nâng, ngày 10/01/2023, T và C cùng chỉ huy giám sát tại hiện trường.
Ngày 11/01/2023, Nguyễn Văn T và Nguyết Viết C3 cùng 09 người trên tiếp tục đến Công ty G làm việc. Quá trình làm việc, anh T3, anh M1 mỗi người điều khiển một xe nâng, anh T3 điều khiển xe nâng ở phía trong, anh M1 điều khiển xe nâng ở phía ngoài, hai xe di chuyển song song và cách nhau khoảng 03-04 mét. Sau khi giao nhiệm vụ, giám sát chỉ đạo, khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T rời khỏi hiện trường thi công. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh T3 trong thùng xe cao khoảng 6m để giữ đầu trên của thanh giá hàng, chờ số người bên dưới hạ giá hàng bên xe của M1 trước. Lúc này, anh M1 đang giữ phần trên cùng của khung giá hàng, phía dưới có các anh N1, B, N và V giữ chân giá hàng, M1 hô to và điều khiển thùng xe dần dần hạ xuống đồng thời những người phía dưới kéo chân giá hàng dần ra ngoài theo hướng cửa kho để hạ giá hàng xuống. Khi thùng xe của anh M1 hạ xuống được 1/3, chân giá hàng được kéo ra ngoài một đoạn thì vướng vào ốc vít dưới nền nhà xưởng làm cho xe của anh M1 bị nghiêng về phía sau, đổ vào xe nâng của anh T3 làm anh T3, anh M1 bị ngã xuống đất. Anh M1 không bị thương, còn anh T3 bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu. Đến 14 giờ 00 phút cùng ngày, C3 quay lại kho gọi người kéo 02 xe nâng bị đổ lên, dọn dẹp rồi tiếp tục chỉ đạo mọi người làm việc. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh T3 tử vong.
Tiến hành xác định hiện trường, Cơ quan điều tra ghi nhận: Hiện trường chung thuộc khu vực nhà kho Công ty G có kích thước (120 x 60)m, nơi xảy ra vụ việc thuộc gian phía Đông Nam. Trên nền xưởng có 01 đám tạp chất màu nâu đỏ dạng trượt quệt kích thước (1,6 x 0,6)m, tâm vết cách phía đông 51m, cách vách phía nam 18,1m; 01 vết trượt xước bám dính tạp chất màu xanh dạng sơn kích thước (1,65 x 0,5)m, tâm vết cách tâm vết máu 1,9m, cách vách phía nam 16,7m; 01 đám vết trượt xước dính tạp chất màu xanh dạng sơn, màu đen dạng cao su,
kích thước (2,6 x 02)m, rải rác trên diện này có một số mảnh vỡ kim loại, bu lông đai ốc, tâm vết này cách tâm vết máu 7,5m, cách vách phía nam 17,7m; 01 xe nâng in tem “H”, cách vách phía Đông 41m, cách vách phía nam 16m. Trên mặt nền kho tập kết nhiều thanh giá kim loại màu xanh kích thước (8,7 x 01)m, trong đó có 02 thanh bị cong vênh tại phần đầu mối mỗi thanh, cách vách phía Nam lần là 8m, 18m, cách vách phía đông lần lượt là 30m, 45m. Tại khu vực đường nội bộ cạnh cửa phía đông của kho có 01 xe nâng dán tem “Hải Tiến Company”.
Khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, Cơ quan điều tra ghi nhận:
- Xe nâng dán tem “Hải Tiến Company”: Cần điều khiển lên xuống được đặt tại ví trí góc trên trong lòng xe, phần dây điện cắm nối bị bung khỏi vị trí ban đầu, nằm phía dưới lòng xe nâng; phía trên bên phải lòng xe nâng có 01 đoạn dây màu hồng được buộc trên khung lòng xe nâng.
- Xe nâng dán tem “Hoàng Minh”: Phía dưới thùng xe nâng có 01 hộp nhựa màu đen, phần ốp ngoài bị bung khỏi vị trí ban đầu, phần dây điện nằm rải rác dưới lòng xe nâng; phần cần điều khiển được đặt tại ví trí góc trên bên phải phía ngoài thùng xe; tại vị trí góc trên bên phải phái ngoài thùng xe, góc dưới bên phải thùng xe, góc phải phía dưới gầm bánh xe, trước lòng xe phần góc phải hướng từ ngoài vào trong đều có góc xốp đen bị vỡ.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 04/2023/TT ngày 23/02/2023 của Trung tâm P2 kết luận: Nạn nhân Phạm Văn T3 bị chấn thương ngực gây gãy xương lồng ngực bên trái, tràn dịch khoang màng phổi hai bên, gãy xương cánh tay trái, gãy xương vùng khuỷu tay trái, gãy xương chày phải. Nguyên nhân chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do đa chấn thương, chấn thương ngực nặng. Các thương tích có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.
Tại Công văn số 3130/SLĐTBXH-TTr ngày 26/6/2023 của Sở L1 xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn lao động:
- Công ty TNHH X không tổ chức huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động; không trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; không xây dựng quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 7, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động, Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động được sửa đổi bổi sung bởi Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ L2, Thông tư số
25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30/11/2022 của Bộ L2 quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.
- Nguyễn Viết C chưa nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc; nhận thấy việc bố trí công nhân đứng trong lòng xe nâng là nguy hiểm nhưng vẫn để cho những người chưa được đào tạo chuyên môn vận hành xe nâng điều khiển xe nâng, không có biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động để ngăn chặn nguy cơ trực tiếp gây mất an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc hoặc báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố, tai nạn lao động theo quy định tại Điều 12, Điều 17 Luật An toàn, vệ sinh lao động.
- Ngoài ra, ông Phạm Văn T3 và ông Bùi Văn M1 tuy chưa được đào tạo chuyên môn vận hành xe nâng nhưng vẫn trực tiếp điều khiển xe nâng....
Quá trình điều tra, Nguyễn Viết C bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 11/01/2024, C đến Công an huyện T đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T, Nguyễn Viết C khai như trên.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe nâng dán tem “Hải Tiến” và 01 xe nâng dán tem “Hoàng Minh”, quá trình điều tra xác định của Công ty TNHH H1, địa chỉ tại xã T, huyện T và Công ty CP T8 và xây lắp điện Trường P1, địa chỉ tại xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi tiến hành xong các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe chủ sở hữu.
Đối với 01 USB chứa video ghi hình nội dung vụ tai nạn qua giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Về dân sự: Nguyễn Văn T đã bồi thường số tiền 300.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân Phạm Văn T3. Gia đình anh T3 không còn yêu cầu đề nghị gì khác và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Trong vụ án này, anh Bùi Văn M1 chưa được đào tạo kỹ thuật vận hành xe nâng, các công nhân khác chưa được tập huấn an toàn lao động, làm việc theo chỉ đạo của Nguyễn Văn T, Nguyễn Viết C nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Bản Cáo trạng số 90/CT-VKSTN ngày 08/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn T và Nguyễn Viết C về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã xử phạt: Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, xử phạt: Nguyễn Viết C 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên thời hạn chấp hành hình phạt tù, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo C kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Các bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo nên hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo; ngày 04/7/2024, bị cáo Nguyễn Viết C có đơn kháng cáo; Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo của bị cáo T và bị cáo C trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn T là Giám đốc Công ty TNHH X thuê người lao động làm việc nhưng không tổ chức huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động; không trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; không xây dựng quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 7, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động, Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động về hoạt
động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động được sửa đổi bổi sung bởi Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ L2, Thông tư số 25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30/11/2022 của Bộ L2 quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động. Nguyễn Viết C chưa nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc; nhận thấy việc bố trí công nhân đứng trong lòng xe nâng là nguy hiểm nhưng vẫn để cho những người chưa được đào tạo chuyên môn vận hành xe nâng điều khiển xe nâng, không có biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động để ngăn chặn nguy cơ trực tiếp gây mất an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc hoặc báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố, tai nạn lao động theo quy định tại Điều 12, Điều 17 Luật An toàn, vệ sinh lao động. Ngày 11/01/2023, trong khi làm việc cho T và C nhóm người lao động đã xảy ra tai nạn, gây thiệt hại làm anh Phạm Văn T3 bị chết. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C 18 (Mười tám) tháng tù đều về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của các bị cáo:
[3] Hội đồng phúc thẩm xét: Nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo C được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; Nguyễn Viết C 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” là thỏa đáng, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Viết C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Nguyễn Viết C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
-
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 295; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết C phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án (trừ cho bị cáo Nguyễn Viết C thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024 đến ngày 19/01/2024).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyễn Viết C, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
Bản án số 155/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 155/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án xét xử hình sự phúc thẩm về tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động"
