Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/DS - PT

Ngày: 30/9/2024

V/v tranh chấp đòi tài sản
là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quế.

- Các Thẩm phán: Ông Lê Quý My và bà Nguyễn Thị Thuỷ.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thuỷ Ngân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 và 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2023/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất.

Do bản dân sự sơ thẩm số: 22/202023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 14/QĐPT-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Ông Lưu Xuân D, sinh năm 1937 (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1939, (vắng mặt).

Đều trú tại: Tổ dân phố H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên

Người đại diện theo ủy quyền cho ông D: Anh Lưu Văn N, sinh năm 1963 (con trai ông D, bà B);

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Phan T, sinh năm 1958 Văn phòng luật sư ATV, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

Địa chỉ: Số E, Khu Ẩ, T, Hà Nội (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Lưu Văn S, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1964 (vợ anh S)

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

  1. Trường trung học Cơ sở T5, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Thị L - Chức vụ: Hiệu trưởng (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  1. Hạt kiểm lâm thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Thanh S1 - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm thành phố S;

Địa chỉ: Phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  1. UBND phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đồng Thị Hải Y - cán bộ địa chính (có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

  1. Bà Triệu Thị T1, sinh năm 1958;

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

  1. Ông Lưu Phú B1, sinh năm 1950;

Địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn cũng như người được nguyên đơn uỷ quyền trình bày: Theo hợp đồng trồng rừng Pam ký ngày 29/4/1991 giữa Trường T5 và ông Lưu Văn D1 (xã viên Hợp tác xã V), có sự chứng kiến của UBND xã C, ông Lưu Văn D1 được Trường T5 giao cho diện tích khoảng 5,75 ha đất đồi PAM tại xóm B, xã C để trồng B (nay thuộc tổ dân phố N, phường C, thành phố S, Thái Nguyên), vị trí đất đồi PAM thuộc tiểu khu D khoảnh 7, lô 3, 7, 22. Quá trình trồng và chăm sóc cây do địa hình đồi đất dốc nên đất cằn cỗi, cây trồng không phát triển được. Ngày 25/4/2000 ông D1, bà B làm đơn xin phép UBND thị xã S và Hạt kiểm lâm thị xã S cho chuyển đổi sang trồng cây lâu năm.

UBND thị xã S đã xác nhận đồng ý để ông Lưu Văn D1 khai thác rừng P1 chuyển thành vườn cây ăn quả và đồi chè (theo biên bản xác minh ngày 09/5/2000).

Năm 2012 gia đình tổ chức họp về phương thức sản xuất, ông D1, bà B cùng tất cả thành viên trong gia đình nhất trí cho vợ chồng ông S (là con trai cả trong gia đình) 1,5ha đất để canh tác (theo Giấy giao lại quyền sử dụng đất đồi P1 đã được chuyển đổi cây trồng ngày 20/02/2012, có xác nhận của UBND phường C). Với điều kiện vợ chồng ông S phải có trách nhiệm nuôi dưỡng ông D1, bà B là bố mẹ đẻ lúc ốm đau, bệnh tật cho đến khi qua đời; vợ chồng ông S bà N1 nhất trí không có ý kiến gì. Cũng trong năm đó ông D1, bà B lên ở với vợ chồng ông S. Đến năm 2003 ông D1, bà B có mâu thuẫn với vợ chồng ông S nên không ở với vợ chồng ông S nữa.

Năm 2012 ông D1, bà B mời UBND phường C và các bên liên quan vào xác định ranh giới, vẽ lại sơ đồ ngoài thực địa để vợ chồng anh S yên tâm canh tác, các thành viên trong gia đình nhất trí.

Năm 2014 vợ chồng ông S lấn chiếm sang phần đất của ông D1, bà B đang canh tác, ông D1, bà B đã làm đơn ra UBND phường để hòa giải, sau khi hòa giải vợ chồng ông S nhất trí trả lại cho ông D1, bà B phần đất đã lấn chiếm theo sơ đồ đã kẻ vẽ năm 2012.

Đầu năm 2021, vợ chồng ông S lại lấn chiếm sang đất của ông D1, bà B, ông bà D1 lại có đơn ra UBND phường C đề nghị giải quyết tranh chấp. Tại buổi hòa giải vợ chồng ông S không chấp nhận và bác toàn bộ các cuộc hòa giải trước đây, vợ chồng ông S cho rằng toàn bộ đất đồi PAM mà trường T5 giao cho ông D1, bà B từ năm 1991 là đất của vợ chồng ông S.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định đối chiếu giữa sơ đồ đất đồi giao lại cho ông Lưu Văn S ngày 24/02/2012, người đo vẽ Lưu Xuân D, người nhận đất Lưu Văn S được UBND phường C xác nhận ngày 01/3/2012 với bản trích đo hiện trạng sử dụng đất thì phần đất ông D cho ông S theo biên bản ngày 24/02/2012 là 12.545,04m² theo trích đo hiện trạng tháng 4/2022. Diện tích đã cho không bao gồm diện tích đường đi. Phần diện tích đất còn lại trong tổng số 23.445,34m² là ông S đã lấn chiếm thêm ngoài diện tích được ông D cho.

Quá trình giải quyết, ông D, bà B đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Lưu Văn S trả lại cho ông Lưu Xuân D, bà Nguyễn Thị B toàn bộ diện tích đất thuộc tiểu khu D, khoảnh 7 lô 3, 7, 22; nay theo bản đồ đo đạc năm 2018 - 2019 là thửa số 94, tờ bản đồ số 22, phường C, thành phố S theo hiện trạng trích đo là 23.445,34m².

Tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đường bê tông hiện trạng và diện tích nằm trong ranh địa chính thửa 86 do hiện nay các diện tích này ông S không quản lý sử dụng. Ngoài ra không yêu cầu giải quyết phần đất tranh chấp là đường giao thông theo bản đồ địa chính 2018 -2019 có diện tích 677,1m². Đồng ý để lại cho ông S 3.000m² đất tại vị trí có nhà ở. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông S trả lại toàn bộ diện tích đất còn lại theo hiện trạng của thửa đất số 94, tờ bản đồ 22.

Bị đơn ông Lưu Văn S và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1 vợ ông S trình bày: Trong quá trình hòa giải ông S khai: Ngày 06/10/1984 ông S và ông Lưu Phú B1 là giáo viên cấp I, II T, huyện P, tỉnh Bắc Thái (nay là phổ thông cơ sở Thắng Lợi tỉnh T) cùng với vợ ông B1 là bà Đào Thị X có thỏa thuận đổi nhà và hoa màu để lấy vật liệu làm nhà. Trong đó ông B1 có 3 gian nhà tre và một số hoa màu trên diện tích 2.900m² đất hoa mầu thuộc đất HTX V, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Thái (nay là xã C, thành phố S, Thái Nguyên). Ông B1 đổi nhà và đất trồng hoa màu cho ông để lấy 100 cây tre và 03 tấn vôi. Giấy đổi nhà và hoa màu được UBND xã C, tỉnh Bắc Thái (nay là xã C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) ký xác nhận ngày 08/10/1984. Phía sau nhà ông B1 là đồi trọc không có người quản lý, ông S tự khai phá và trồng cây lấy gỗ Bạch Đàn từ năm 1984, tổng cộng khoảng 20.000m².

Năm 1991 nhà nước có chủ trương vận động nhân dân tham gia trồng cây xanh phủ đồi núi trọc để dân lấy gạo. Ông S có cho bố ông là ông Lưu Văn D1 (tức ông Lưu Xuân D) mượn đất đồi ông đã vỡ hoang để đứng tên tham gia chương trình trồng PAM. Theo chương trình trồng Pam thì phải đủ 30 ha thì chương trình mới về Hợp tác xã Vũ T2. Do đó cùng với đất của gia đình ông thì ông D còn đứng tên trồng Pam cho một số hộ gia đình khác: Gia đình ông Nguyễn Văn D2, trú tại: Tổ dân phố N (nay là H), phường C, thành phố S, Thái Nguyên), ông Nguyễn Văn P, trú tại: tổ dân phố N (nay là H), phường C, thành phố S, Thái Nguyên, hiện nay là Phó Bí thư đảng ủy phường C), bà Triệu Thị T1, trú tại tổ dân phố N (nay là H), phường C, thành phố S, Thái Nguyên). Với đất của 04 hộ trên tổng diện tích đất PAM mang tên ông Lưu Xuân Dân c dự án PAM là 5,75 ha.

Sau 10 năm dự án PAM kết thúc, đất ở và đồi ông khai phá trước khi trồng PAM diện tích khoảng 20.000m² ông đã thuê người khai phá san lấp trồng cây ăn quả. Đến năm 2012 bố mẹ ông là ông Lưu Xuân D tuổi cao sức yếu thương bố mẹ già, cuộc sống không có thu nhập gì khác ngoài trợ cấp thương tật của bố ông. Ông đã thỏa thuận bằng miệng với bố ông cho bố mẹ ông sử dụng 40 cây ổi ăn quả năm thứ 8 trên diện tích 500m² để dưỡng già, còn diện tích đất bố ông không được tặng cho hay chuyển nhượng cho ai, nếu tặng cho hay chuyển nhượng cho ai phải trả lại công khai phá của vợ chồng ông.

Ông xác định đối chiếu giữa sơ đồ đất đồi giao lại cho ông ngày 24/02/2012, người đo vẽ Lưu Xuân D, người nhận đất Lưu Văn S được UBND phường C xác nhận ngày 01/3/2012 với bản trích đo hiện trạng sử dụng đất thì phần đất bố ông cho ông theo biên bản ngày 24/02/2012 là 12.545,04 m² theo trích đo hiện trạng tháng 4/2022. Còn các phần diện tích đất còn lại theo bản trích đo hiện trạng cũng là của ông khai phá từ năm 1984 đến nay, ông đang trực tiếp quản lý sử dụng. Lý do từ năm 1984 đến nay ông chưa đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do điều kiện khó khăn chưa làm được.

Tại phiên tòa ông S thay đổi lời khai, xác định không có liên quan gì đến việc trồng Pam của ông D. Nay ông D, bà B đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông trả lại đất; ông không nhất trí; cũng không đồng ý lấy 3.000m² đất theo ý kiến của nguyên đơn. Toàn bộ diện tích đất này là do ông khai phá và quản lý, sử dụng từ trước đến nay.

Những người làm chứng khai:

  • Ông Nguyễn Văn P trình bày: Năm 1991 gia đình ông và anh trai ông là ông Nguyễn Văn D2 có nhờ ông Lưu Xuân D đứng tên chủ dự án trồng rừng P1 nhưng các bên chỉ thỏa thuận bằng miệng, không có văn bản giấy tờ gì. Ông D có đưa cây cho gia đình ông trồng và gia đình ông được nhận gạo. Diện tích góp vào dự án Pam của cả hai gia đình ông và anh trai ông khoảng 5.000m². Từ trước đến nay ranh giới giữa các hộ phân định rõ ràng, sử dụng ổn định và không có tranh chấp. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
  • Bà Triệu Thị T1 trình bày: Năm 1991 gia đình bà không tham gia trồng Pam và không liên quan gì đến việc trồng Pam của gia đình ông D vì đất của gia đình bà không tiếp giáp với đất của hộ ông D. Việc ông S khai ông D đứng tên chủ dự án trồng Pam cho một số hộ gia đình trong đó có gia đình bà là không đúng. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • Ông Lưu Phú B1 trình bày: Giấy đổi nhà và hoa màu để lấy vật liệu làm nhà ở năm 1984 do ông viết bán cho ông S, nhưng thực tế thời điểm đó ông S vẫn đang công tác ở P. Ông chuyển nhượng đất cho ông Lưu Xuân D là bố đẻ ông S. Ông D mua đất cho con trai là ông S nên Giấy đổi nhà và hoa màu mới ghi tên ông S. Ông xác định chuyển nhượng nhà và hoa màu cho ông D, ông D là người trả ông số tiền 4.000 đồng thời điểm đó. Giấy ghi đổi nhà và hoa màu để lấy vật liệu làm nhà mục đích để tránh nộp thuế đối với Nhà nước. Ông xác định diện tích ông bán cho ông D không nằm trong diện tích đồi Pam của ông D.
  • Đại diện Hạt kiểm lâm T: Đây là vụ án tranh chấp đất ngoài quy hoạch 3 loại rừng, trước đây là trồng rừng theo Dự án PAM 3352. Đến nay Ban quản lý Dự án PAM 3352 thị xã S đã giải thể từ lâu, rừng được giao lại cho chủ rừng quản lý theo quy định. Do vậy, các diện tích rừng và đất rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng theo “Quyết định số 1518/QĐ-UBND ngày 10/7/2014 của UBND tỉnh T về điều chỉnh Quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Thái Nguyên” đơn vị không quản lý. Theo hồ sơ lưu trữ tại Hạt kiểm lâm thành phố S, ông Lưu Văn D1 trồng trên 06 lô cụ thể: 30, 26, 24, 23, 22, 21 (theo lô thiết kế thuộc khoảnh 7 tiểu khu D) tổng diện tích 5,7ha trồng K và Bạch Đàn theo dự án 3352 (P2) ông Lưu Văn D1 đã ký hợp đồng trồng rừng với Ban quản lý dự án trồng rừng 3352 thị xã S. Hiện nay khu vực phường C, thành phố S nằm ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp. Đối với hợp đồng trồng rừng Pam năm 1991 giữa ông Lưu Văn D1 với đại diện Trường T5, Hạt kiểm lâm không nắm được. Hồ sơ trồng rừng Pam hiện nay Hạt kiểm lâm không còn lưu giữ.
  • Đại diện Trường THCS T5 trình bày: Ngày 22/4/1991 Trường T5 (nay là Trường THCS T5) ký hợp đồng trồng rừng Pam với ông Lưu Văn D1, có sự chứng kiến của UBND xã C, đại diện nhà trường là ông Nguyễn Thanh T3. Trong đó nhà trường có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật và thanh toán lương thực cho gia đình. Hiện nay trường không có tài sản tại tổ dân phố N, phường C và không có hồ sơ gì liên quan đến hợp đồng trồng rừng Pam năm 1991 nói trên.
  • Đại diện của UBND phường C, thành phố S có quan điểm: Tại biên bản làm việc ngày 05/5/2023 do UBND phường C tổ chức xác minh nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp giữa ông Lưu Xuân D, bà Nguyễn Thị B với ông Lưu Văn S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất: Năm 1984 -1986 khu đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý của Trường T5. Sau khi T4 chuyển đi, ông Lưu Xuân D khai phá sử dụng. Đến khi có dự án trồng PAM năm 1989 - 1991, Nhà nước giao khu đất đang tranh chấp cho gia đình ông Lưu Xuân D sử dụng trồng PAM (trồng B). Ngày 25/5/2000 ông Lưu Xuân D đã có đơn xin chuyển đổi cây trồng từ trồng PAM (đồi chè, cây ăn quả và được UBND thị xã S đồng ý có xác nhận ngày 30/5/2000. Cùng năm 2000 ông Lưu Xuân D đã cho ông Lưu Văn S một phần diện tích sau đó ông Lưu Văn S đã làm nhà tạm rồi xây lại nhà ở như hiện tại và ở từ đó đến nay.

Quá trình xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án: Đối với diện tích đồi Pam thuộc tiểu khu D khoảnh 7, lô 3, 7, 22 theo yêu cầu khởi kiện được thể hiện trên bản đồ địa chính đo đạc năm 1987 là thửa 230 tờ bản đồ 65-III, diện tích 21.300m². Trên bản đồ địa chính năm 2018 - 2019 là thửa 94, tờ bản đồ 22, diện tích 32.447,8m² loại đất trồng cây lâu năm, tên chủ quản lý sử dụng đất là ông Lưu Xuân D (Lưu Văn D1).

Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá đối với diện tích đất tranh chấp.

Với nội dung nêu trên tại bản án số 22/202023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sựĐiều 166; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 12; Điều 166; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ông Lưu Xuân D, Bà Nguyễn Thị B đối với ông Lưu Văn S về việc đòi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 7.483,18m² theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1987 là thửa 230 tờ bản đồ 65-III; theo bản đồ đo đạc năm 2018 - 2019 là thửa số 94, tờ bản đồ số 22, phường C, thành phố S, Thái Nguyên; bao gồm: 3.292,40m² là đoạn nối các điểm 29, 30, 31, 32, 33, 68, 69, 37, 38, m, l, k, i, h, g, f, 29 và 4.190,78m² là đoạn nối các điểm a, b, 83', 84', 57, 16, 56, 55, 54, 53, 52, 51, 50, 49, 83, 84, 81, 85, 44, 43, a trên bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tháng 9/2023 của Công ty Cổ phần T6 và xây dựng số 6.

Ông Lưu Văn S có trách nhiệm thu hoạch toàn bộ cây cối, tháo dỡ công trình gắn liền với đất để trả lại diện tích đất trên cho ông Lưu Xuân D và bà Nguyễn Thị B quản lý sử dụng.

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ông Lưu Xuân D, bà Nguyễn Thị B đối với ông Lưu Văn S về việc đòi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 12.903,17m² theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1987 là thửa 230 tờ bản đồ 65-III; theo bản đồ đo đạc năm 2018 - 2019 là thửa số 94, tờ bản đồ số 22, phường C, thành phố S, Thái Nguyên (là đoạn nối các điểm a, b, 83', 84', 57, 58, 59, 60, 61, 86, 22, 87, e, 62, 63, 64, 65, 88, 29, f, g, h, i, k, l, m, 39, 40, 41, 42, a trên bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tháng 9/2023 của Công ty CP T7 và xây dựng số 6.
  2. Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy giao quyền sử dụng đất đồi Pam đã được chuyển đổi cây trồng ngày 20/02/2012 giữa ông Lưu Xuân D và ông Lưu Văn S.
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đường bê tông hiện trạng (358,53m²) và 1.459,21m² nằm trong ranh địa chính thửa 86, tờ bản đồ 22 theo bản trích đo hiện trạng tháng 9/2023.
  4. Đối với đất tranh chấp là đường giao thông (đoạn nối các điểm 37, 38, 39, 40, 41, 42, a, 1', 79, 78, 2', 3', 4' 5', 6' 7', 71, 70, 37 trên bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tháng 9/2023 của Công ty Cổ phần T6 và xây dựng số 6. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về chi phí tố tụng: Ông Lưu Xuân D, bà Nguyễn Thị B phải chịu 16.455.000đồng chi phí tố tụng, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 26.000.000 đồng (đã thực hiện xong).

Ông Lưu Văn S phải hoàn trả ông D, bà B số tiền 9.545.000 đồng chi phí tố tụng.

  1. Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn đều là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/9/2023 ông Lưu Xuân D kháng cáo một phần bản án sơ thẩm ông chỉ cho anh S 3000m² đất và các tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 4 cùng với công trình phụ. Buộc anh S trả lại 19.000m² đất. Buộc anh S trả lại tiền chi phí thẩm định 24.000.000đ.

Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của ông D thay đổi nội dung đơn kháng cáo, nhất trí cho anh S diện tích từ điểm 42 đến điểm 61 diện tích được bao nhiêu thì anh S được quyền sử dụng bấy nhiêu vì như vậy diện tích đã lớn hơn diện tích mà ông D đã cho anh S 3000m².

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Lưu Xuân D sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của ông D cho anh S diện tích đất từ điểm 42 kéo thẳng đến điểm 61 cho vuông đất của anh S cũng là phù hợp, bởi vì căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ có đầy đủ căn cứ khẳng định thửa số 94 là của ông Lưu Xuân D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lưu Xuân D; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:

  1. Về nguồn gốc đất tranh chấp: Tại biên bản làm việc ngày 05/5/2023 do UBND phường C tổ chức cũng như các tài liệu chứng cứ khác do các bên đương sự cung cấp cũng như Tòa án thu thập được, thể hiện như sau: Năm 1984 -1986 khu đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý của Trường T5. Sau khi T4 chuyển đi, ông Lưu Xuân D khai phá sử dụng. Đến khi có dự án trồng PAM năm 1989 - 1991, Nhà nước giao khu đất đang tranh chấp cho gia đình ông Lưu Xuân D sử dụng trồng PAM (trồng B). Ngày 25/4/2000 ông Lưu Xuân D có đơn xin chuyển đổi cây trồng với nội dung: Năm 1991, 1992 gia đình được nhận làm trên 4,5ha Pam trồng B, đến thời kỳ khai thác nhưng đến nay kinh tế không cao, cây còi cọc chậm lớn, đề nghị được chuyển đổi từ Bạch Đàn sang trồng chè và cây ăn quả. Đơn được UBND phường C xác nhận ngày 06/5/2000, UBND thị xã S xác nhận vào ngày 30/5/2000; đồng ý để ông D khai thác rừng Pam chuyển đổi thành vườn cây ăn quả và đồi chè. Cùng năm 2000 ông Lưu Xuân D đã cho anh Lưu Văn S một phần diện tích đất, sau đó anh S đã làm nhà tạm rồi xây lại nhà ở như hiện nay và ở từ đó đến nay.
  2. Đối với lời khai của anh Lưu Văn S về nguồn gốc đất tranh chấp: Do anh mua của ông Lưu Phú B1 2.900m² đất vào năm 1984, còn lại toàn bộ diện tích do anh khai phá là không có căn cứ. Tại các lời khai của ông B1 cũng như tại phiên toà phúc thẩm ông B1 vẫn giữ nguyên các lời khai trước đây, ông khai bán cho ông D là bố đẻ anh S nhưng giấy tờ viết tên anh S và chỗ bán là ở chỗ nhà anh N đang sử dụng không phải chỗ đất đang tranh chấp. Tại phiên toà phúc thẩm anh S cũng phải thừa nhận mua của ông B1 ở chỗ nhà anh N đang ở hiện nay, không phải chỗ đất đang tranh chấp với ông D. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định toàn bộ diện tích thửa 94 là của ông D không phải của anh S khai phá như anh S khai. Do vậy ông D đòi lại thửa đất 94 là có căn cứ và tại cấp phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của ông D tự nguyện cho anh S diện tích đất có nhà ở của anh S và các loại tài sản của anh S trồng trên diện tích đất được ông D cho từ điểm 42, 61, 86, 22, 87, e, 62, 63, B, 39, 40, 41, 42 có diện tích đo đạc 4.720,8m² là phù hợp, cần buộc anh S trả lại diện tích còn lại của thửa 94 cho ông D là có lợi cho anh S. Do vậy buộc anh S phải thu hoạch cây trồng trên diện tích đất để trả lại diện tích đất theo các điểm 37, 38, m, B, 63, 64, 65, 88, 29, 30, 31, 32, 33, 68, 69, 37 (có diện tích 7.975,4m²). Trả lại ông D diện tích theo các điểm 42, 61, 60, 59, 58, 57, 16, 56, 55, 54, 53, 52, 51, 50, 49, 83,84, 81, 85, 44, 43, a, 42 (có diện tích 7.756,4m²). Tổng cộng anh S phải trả lại cho ông D 15.731,8m²). Ngoài ra còn có diện tích 11.064,36m² nằm trong thửa số 94 nhưng các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét là đúng.
  3. Về chi phí thẩm định, ông D đã tạm ứng số tiền 26.000.000₫ lần một và 7,000,000₫ lần 2 cần buộc mỗi bên chịu một nửa.
  4. Tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D cũng nhất trí với quan điểm của người đại diện theo uỷ quyền cho ông D đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông D cho anh S diện tích từ điểm 42 đến điểm 61 là phù hợp.
  5. Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông D cho anh S diện tích từ điểm 42, 61, 63, B, 42 và sửa án sơ thẩm là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Các Điều 12, 166 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Lưu Xuân D. Sửa bản án sơ thẩm số 22/202023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Xuân D, bà Nguyễn Thị B đối với anh Lưu Văn S về việc đòi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là thửa đất số 94, tờ bản đồ số 22, phường C, thành phố S, Thái Nguyên;
  2. Buộc anh Lưu Văn S trả lại cho ông Lưu Xuân D diện tích còn lại của thửa số 94 cho ông D theo các điểm 37, 38, m, B, 63, 64, 65, 88, 29, 30, 31, 32, 33, 68, 69, 37 (có diện tích 7.975,4m²). Trả lại ông D diện tích theo các điểm 42, 61, 60, 59, 58, 57, 16, 56, 55, 54, 53, 52, 51, 50, 49, 83,84,17, 81, 85, 44, 43, a, 42 (có diện tích 7.756,4m²). Tổng cộng anh S phải trả lại cho ông D 15.731,8m² (có sơ đồ kèm theo bản án). Anh Lưu Văn S có trách nhiệm thu hoạch toàn bộ tài sản trên phần đất để trả lại đất cho ông D và bà B quản lý sử dụng.
  3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông D, bà B cho anh S diện tích đất thuộc thửa 94, tờ bản đồ số 22 phường C, thành phố S, có nhà ở của anh S và các loại tài sản của anh S trồng trên diện tích đất được ông D cho từ điểm 42, 61, 86, 22, 87, e, 62, 63, B, 39, 40, 41, 42 có diện tích đo đạc 4.720,8m² (có sơ đồ kèm theo bản án). Ông Lưu Xuân D, bà Nguyễn Thị B và anh Lưu Văn S có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. Ghi nhận sự thoả thuận của ông D và anh S, hủy Giấy giao quyền sử dụng đất đồi Pam đã được chuyển đổi cây trồng ngày 20/02/2012 giữa ông Lưu Xuân D và anh Lưu Văn S.
  5. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đường bê tông hiện trạng (358,53m²) và 1.459,21m² nằm trong ranh địa chính thửa số 86, tờ bản đồ số 22 theo bản trích đo hiện trạng tháng 9/2023.
  6. Đối với đất tranh chấp là đường giao thông (đoạn nối các điểm 37, 38, 39, 40, 41, 42, a, 1', 79, 78, 2', 3', 4' 5', 6' 7', 71, 70, 37 trên bản trích đo hiện trạng sử dụng đất tháng 9/2023 của Công ty Cổ phần T6 và xây dựng số 6); Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  7. Về chi phí tố tụng: Ông Lưu Xuân D, bà Nguyễn Thị B phải chịu 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) chi phí tố tụng, đo đạc, thẩm định, định giá được trừ vào số tiền tạm ứng ông D đã nộp là 26.000.000đ (hai mươi sáu triệu đồng). Anh S phải chịu 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) chi phí tố tụng, đo đạc, thẩm định, định giá do ông D đã nộp, nay buộc anh S trả lại cho ông D 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Số tiền chi phí đo đạc lần hai hết 7.000.000₫ (bẩy triệu đồng), ông D là người tạm ứng nay buộc mỗi bên chịu 3.500.000đ (ba triệu, năm trăm nghìn đồng). Anh S trả lại cho ông D 3.500.000đ (ba triệu, năm trăm nghìn đồng). Tổng cộng anh S phải có trách nhiệm trả chi phí tố tụng cho ông Lưu Xuân D 16.500.000đ (mười sáu triệu, năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn đều là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND thành phố Sông Công;
  • - Chi cục THADS TP Sông Công;
  • - UBND thành phố Sông Công;
  • - UBND phường Cải Đan;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Tòa dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/DS - PT ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 155/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Lưu Xuân D. Sửa bản án sơ thẩm số 22/202023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger