Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày: 29-07-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Hoà và bà Nguyễn Thị Thuý Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2024/TLST-HS ngày 10/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HS ngày 24/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 135 /2024/HSST-QĐ ngày 15/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Hà Quốc T, sinh ngày 16/5/2006 tại huyện T, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: nam; Quốc tịch: iệt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: không rõ và bà: Hà Thị H, sinh năm: 1974; vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 05/5/2006 tại TP ., tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ I, khu phố G, phường B, TP ., tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn B (chết) và bà: Thái Thị T1, sinh năm: 1962; vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12-3-2024 bị Toà án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 12 tháng thử thách về tội: “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

· Người bào chữa:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Quốc L - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B bào chữa cho bị cáo Hà Quốc T, do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B cử. “Có mặt"
  2. Bà Lê Tôn Nữ Kim Y - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ, do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B cử. “Có mặt”.

· Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:

  1. Bà Hà Thị H, sinh năm 1974 (mẹ của bị cáo Hà Quốc T) “có mặt” Trú tại: Thôn An Hoà 1, xã Phước An, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
  2. Bà Thái Thị T1, sinh năm: 1962 (mẹ của bị cáo Nguyễn Quốc Đ) “vắng mặt”. Anh Nguyễn Quốc H1, sinh năm: 1989 (là anh ruột của bị cáo Đ), “có mặt”. Trú tại: Tổ I, khu phố G, phường B, TP ., tỉnh Bình Định;

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Minh L1, sinh năm: 1982 “vắng mặt” Trú tại: Tổ A, khu phố E, phường T, TP ., tỉnh Bình Định.
  2. Chị Nguyễn Thị Như V, sinh năm: 1991 “vắng mặt” Trú tại: Tổ E, khu phố G, phường B, TP ., tỉnh Bình Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Đình L2, sinh năm: 2002 “có mặt” Trú tại: Tổ E, khu phố E, phường B, TP ., tỉnh Bình Định.

- Người làm chứng:

Chị Huỳnh Thị Kim T2, sinh năm: 1986 “vắng mặt” Trú tại: F L, TP., tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng trưa ngày 17/10/2023, Hà Quốc T rủ Nguyễn Quốc Đ đi dạo khu dân cư để trộm chim cảnh mang về nuôi thì Đ đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển số 77D1-300.20 chở Đ đi dạo tìm nhà dân nào có chim cảnh để sơ hở thì lấy trộm. Trong ngày 17/10/2023, T và Đ đã lén lút thực hiện 02 vụ trộm cắp chim cảnh, cụ thể như sau:

Vụ 1: Khoảng 12 giờ 00 ngày 17/10/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 77D1-300.20 chở Đ đi dạo các tuyến đường tìm nhà nào có chim cảnh để sơ hở thì lén lút lấy trộm. Khi đi ngang nhà của anh Nguyễn Minh L1 (Sinh năm: 1967) tại tổ A, khu phố E, phường T, thành phố Q, T và Đ thấy trước nhà treo 01 lồng chim (loại lồng 02 cầu góc và 01 cầu thẳng, hình vuông, kích thước 37x37x44cm, làm bằng nan tre, có chạm một số hoa văn, có móc bằng đồng), bên trong có 01 con chim chào mào (có lông vùng thân màu xám-đen, lông vùng cổ và bụng màu trắng, có má lông màu đỏ, kích thước từ đầu đến đuôi dài khoảng 18cm, chim thuần hai mùa, chim Q, loại mào đinh), không có người trông coi nên dừng xe lại.

T đứng bên ngoài cảnh giới, còn Đ đi bộ đến lén lút xách lồng chim trên rồi lên xe để T chở mang về phòng trọ của Đ (Địa chỉ: Tổ H, khu phố D, Phường T, thành phố Q) cất giấu.

Vụ 2: Khoảng 12 giờ 30 ngày 17/10/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 77D1-300.20 chở Đ tiếp tục đi trộm. Khi đi ngang nhà của chị Nguyễn Thị Như V (Sinh năm: 1991) tại địa chỉ E Â, Phường B, thành phố Q, T và Đ thấy trước nhà treo 01 lồng chim (hình vuông, kích thước 40x40x40cm, làm bằng nan tre, có chạm một số hoa văn, có móc bằng kim loại) bên trong có 01 con chim chào mào (có lông vùng thân màu nâu sẫm, lông vùng cổ và bụng màu trắng, có lông má màu đỏ, kích thước từ đầu đến đuôi dài 17cm, chim thuần, chim Quảng, loại mào đinh), không có người trông coi nên dừng xe lại. T đứng bên ngoài cảnh giới, còn Đ đi bộ đến lấy trộm 01 lồng chim trên rồi cùng mang về phòng trọ của Đ. Sau đó, Cả hai thống nhất mang 02 lồng chim chào mào trên về nhà của T (Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện T, Bình Định) để cất giấu.

Ngày 10/11/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Q ban hành văn bản số 136/KL-HĐĐGTS, kết luận:

  • - 01 (Một) lồng chim (loại lồng 02 cầu góc và 01 cầu thẳng) hình vuông, kích thước (37x37x44)cm, làm bằng nan tre, có chạm một số hoa văn, có móc bằng đồng, đã qua sử dụng trị giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
  • - 01 (Một) con chim chào mào có lông vùng thân màu xám-đen, lông vùng cổ và bụng màu trắng, có má lông màu đỏ, kích thước từ đầu đến đuôi dài khoảng 18cm, chim thuần hai mùa, chim Q, loại mào đinh trị giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
  • - 01 (Một) lồng chim hình vuông, kích thước (40x40x40)cm, làm bằng nan tre, có chạm một số hoa văn, có móc bằng kim loại, đã qua sử dụng trị giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
  • - 01 (Một) con chim chào mào có lông vùng thân màu nâu sẫm, lông vùng cổ và bụng màu trắng, có lông má màu đỏ, kích thước từ đầu đến đuôi dài 17cm, chim thuần, chim Quảng, loại mào đinh trị giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Về vật chứng: Cơ quan Công an đã tạm giữ từ Nguyễn Quốc Đ 01 lồng chim ( loại lồng 02 cầu góc và 01 cầu thẳng) hình vuông, kích thước (37x37x44)cm, làm bằng nan tre, bên trong có 01 con chim chào mào có lông vùng thân màu xám-đen, lông vùng cổ và bụng màu trắng, có má lông màu đỏ, kích thước từ đầu đến đuôi dài khoảng 18cm và 01 lồng chim hình vuông, kích thước (40x40x40)cm, làm bằng nan tre, bên trong có 01 con chim chào mào có lông vùng thân màu nâu sẫm, lông vùng cổ và bụng màu trắng, có lông má màu đỏ, kích thước từ đầu đến đuôi dài 17cm. Những tài sản trên đã trả lại cho các bị hại.

Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 08/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng:

  • Đối với bị cáo Hà Quốc T: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52, Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Quốc T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Quốc Đ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

* Bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

* Người bào chữa cho bị cáo Hà Quốc T - Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Ngọc Quốc L trình bày lời bào chữa cho bị cáo Hà Quốc T: Về tội danh và khung hình phạt: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo T. Tuy nhiên, về hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo T đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình, tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm bị cáo chưa đủ 18 tuổi, chưa có năng lực hành vi đầy đủ. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo không có cha, mẹ lo làm ăn nên sự quản lý, giáo dục của gia đình đối với bị cáo thiếu chặt chẽ. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Quốc T 09 tháng tù.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ - Trợ giúp viên pháp lý Lê Tôn Nữ Kim Y trình bày lời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ: Về tội danh và khung hình phạt: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo T. Tuy nhiên, về hình phạt thì có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ vì một phần nguyên nhân là do nhận thức pháp luật hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mất sớm, mẹ lo làm ăn nên sự quản lý, giáo dục của gia đình đối với bị cáo thiếu chặt chẽ. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm bị cáo chưa đủ 18 tuổi, chưa có năng lực hành vi đầy đủ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 06 tháng tù.

* Các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ không bào chữa bổ sung.

* Người đại diện gia đình cho các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ không bào chữa bổ sung.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều rất hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người đại diện gia đình của các bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ là người có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nên phải biết tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và cần xử lý nghiêm minh, nhưng do có ý thức xem thường pháp luật, tham lam, muốn có tiền tiêu xài nhưng chây lười lao động nên vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/10/2023 bị cáo T và bị cáo Đ đã cùng nhau lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh L1 01 lồng chim có trị giá 800.000 đồng, bên trong có 01 con chim chào mào có trị giá 2.000.000 đồng, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày các bị cáo cùng nhau lén lút của chị Nguyễn Thị Như V 01 lồng chim có trị giá 300.000 đồng, bên trong lồng có 01 con chim chào mào có trị giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản có các bị cáo lén lút chiếm đoạt của các bị hại là 5.600.000 đồng, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Vụ án có 02 bị cáo tham gia nhưng với vai trò đồng phạm giản đơn, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T là người khởi sướng, điều khiển xe mô tô chở bị cáo Đ đi tìm tài sản trộm cắp, bị cáo Đ là người thực hành, ngoài hành vi phạm tội này, bị cáo Đ còn cùng người khác thực hiện hành vi trộm cắp chim ở thị xã A, nên cân phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi do từng bị cáo gây ra.

[3] Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

  • 4.1. Bị cáo T có nhân thân tốt, bị cáo Đ có nhân thân xấu.
  • 4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ phạm tội 02 lần, mỗi lần đều cấu thành tội phạm nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 2 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • 4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo một mức án có lý có tình để các bị cáo an tâm cải tạo tốt.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Minh T3, Nguyễn Thị Như V đã được nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Các vấn đề khác: Anh Nguyễn Đình L2 đã cho Hà Quốc T mượn xe mô tô biển kiểm soát 77D1 – 300.20 để làm phương tiện phạm tội nhưng anh L2 không biết T sử dụng vào việc phạm tội nên anh Nguyễn Đình L2 không phạm tội.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo T, Đ được HĐXX xem xét đầy đủ, toàn diện. HĐXX sẽ xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự (Áp dụng đối với bị cáo Hà Quốc T)

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự (Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Quốc Đ)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Hà Quốc T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.

  3. Về án phí: Buộc các bị cáo Hà Quốc T, Nguyễn Quốc Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn;
  • - CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Quy Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/10/2023 bị cáo T và bị cáo Đ đã cùng nhau lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh L 01 lồng chim có trị giá 800.000 đồng, bên trong có 01 con chim chào mào có trị giá 2.000.000 đồng, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày các bị cáo cùng nhau lén lút của chị Nguyễn Thị Như V 01 lồng chim có trị giá 300.000 đồng, bên trong lồng có 01 con chim chào mào có trị giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản có các bị cáo lén lút chiếm đoạt của các bị hại là 5.600.000 đồng,
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger