|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 155/2024/HS-ST
Ngày: 29/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Vinh
2. Ông Nguyễn Đức Thành
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/TLST-HSST ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 10/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn S; Sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT và chỗ ở: Xóm H, xã Y, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Trọng T (sinh năm 1963). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Tuyết N (sinh năm 1972). Gia đình có 02 chị em. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: ngày 16/4/2015, bị tòa án nhân quận H, Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội Hiếp dâm (Bản án số 83/2015/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/9/2020 - đã được xóa án tích.
D chỉ bản số 125 do Công an huyện T lập ngày 26/02/2024
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)
HKTT: Xóm T, xã B, huyện Đ, Thái Nguyên
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1990 (có mặt)
Trú tại: Xóm C, xã Y, huyện T, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 02/2024, Nguyễn Văn S quen biết chị Vũ Thị Q (sinh năm 1993, HKTT: Bình Thuận, Đ, Thái Nguyên) thông qua mạng xã hội fecaebook. Ngày 17/02/2024, S hẹn gặp chị Q tại Hà Nội để dẫn đi xin việc và mua điện thoại cho chị Q.
Khoảng 17 giờ ngày 17/02/2024, chị Q đi xe khách từ Thái Nguyên đến khu vực L, Hà Nội và chị Q gửi vị trí cho S đến đón. S điều khiển xe máy Honda Airblade đến đón chị Q và chở về khu vực T, Hà Nội rồi cùng đi ăn uống. Khi ăn uống, chị Q vẫn nói chuyện bình thường, xưng hô với nhau là anh, em. Sau khi ăn uống xong, S bảo chị Q lên xe thì chị Q đồng ý và lên sau xe máy của S. Khi S điều khiển xe chở chị Q đi, chị Q có yêu cầu S đi mua điện thoại Iphone 14 cho chị Q như đã hứa. S không đồng ý nói: “Hôm nay muộn rồi, đi nghỉ đã để mai mua”. S điều khiển xe đi vào nhà nghỉ T1. Chị Q nghĩ S dẫn chị Q vào nhà nghỉ để nghỉ ngơi, chờ đến hôm sau sẽ đi xin việc cho chị Q nên khi vào trong nhà nghỉ, chị Q hỏi thuê 02 phòng, mục đích là để mỗi người ở 1 phòng. Bà chủ nhà nghỉ là bà Lê Thị X (sinh năm 1958, HKTT: A, T, Hà Nội) bảo chị Q lên tầng 3 lấy phòng. Lúc này, S đi phía sau nói với bà X là chỉ lấy 01 phòng thôi. Khi chị Q đi lên đến tầng 2 thì gặp ông Lưu Xuân B (sinh năm 1966, HKTT: H, Hồ N, Hải Dương) nói: “Tầng 3 hết phòng rồi, chỉ còn phòng 203 và một phòng 201 đang dọn dẹp”. Chị Q đi vào phòng 203 thì S đi theo ngay phía sau vào phòng chị Q. Chị Q ngồi ở giường thì thấy S đóng cửa phòng, chốt cửa từ bên trong và ngồi ghế ngay gần cửa, chị Q ngồi trên giường, quay mặt vào gương và không nói gì. Lúc này, S nói: “tao đã nói hôm nay không mua điện thoại thì mai mua” thì chị Q nói: “Thế thì em không cần nữa”. Lúc này, S nói “mày thái độ cái gì, tao đã từng đi tù 8 năm mới về, mày đã vào đây rồi thì không thoát ra được đâu”. Rồi S tiến đến ngồi cạnh chị Q, S khoác tay qua vai chị Q và hôn nhưng chị Q không đồng ý nên đẩy S ra. S dùng hai tay đẩy, kéo chị Q nằm xuống giường. Sau đó, S cởi quần áo của S ra trước và nói: Mày tự cởi quần áo hay để tao xé. Thấy chị Q không nói gì, S tự cởi giầy, cởi bỏ quần đang mặc của chị Q ra và nằm đè lên người Quyên, tay S giữ vào 2 cổ tay Quyên đề xuống giường. Lúc này, Q nói: “em bị bệnh viêm nhiễm phụ khoa, nếu không sợ thì cứ thử quan hệ tình dục”. Nguyễn Văn S nghĩ rằng chị Q chỉ hù doạ nên không nói gì và tiếp tục hôn Q nhưng Q cắn chặt răng, mím chắt
môi không cho S hôn. S tiếp tục hôn và đẩy lưỡi vào môi chị Q thì chị Q đã cắn vào lưỡi S 2 lần. S bực tức nói: Mày thứ cắn lần nữa xem rồi S tiếp tục hôn chị Q. Chị Q sợ nên không dám phản kháng S nữa. Thấy 2 chân chị Q đang kẹp vào nhau, S dùng đầu gối mình đẩy 2 chân chị Q tách ra 2 bên. Hai chân của S cho vào giữa 2 chân chị Q. S đút dương vật của mình vào âm hộ của chị Q nhưng chị Q giãy giụa nên không đút vào được. S dùng tay trái, giữ lấy 2 tay chị Q, tay phải S cầm dương vật đút vào âm hộ của chị Q. S cho dương vật của mình kéo ra, đút vào nhiều lần bên trong âm hộ của chị Q để quan hệ tình dục. Khoảng 5 phút sau, S xuất tinh vào trong âm hộ của chị Q. Sau khi xuất tinh xong, S nằm xuống giường ôm chị Q và nghỉ ngơi. Lúc này, chị Q xin đi vệ sinh nhưng S không đồng ý nói: “Mày đái ra đây cũng được, tao uống luôn” và ôm chặt chị Q.
Khoảng 20 phút sau, S tiếp tục nằm đè lên người chị Q để quan hệ tình dục lần thứ 2. Lúc này, S bảo chị Q: “Mày tự cởi áo hay để tao xé” thì chị Q tự cởi áo ngoài và vẫn mặc áo lót trong. S đè chị Q xuống giường, tay trái S giữ đè 2 tay chị Q qua đầu xuống giường, tay phải S kéo áo lót chị Q lên. S nói: “Tao là chó đây” đồng thời S liếm má của chị Q. Chị Q lắc đầu không cho S liếm má thì S liếm xuống hai vú của chị Q. Thấy 2 chân chị Q đang kẹp vào nhau, S dùng hai đầu gối đẩy hai chân của chị Q tách ra hai bên. Chân của S ở giữa 2 chân chỉ Q, tay phải S cầm dương vật đút vào âm hộ của chị Q để quan hệ tình dục. S kéo đẩy dương vật của mình ra vào trong âm hộ của chị Q khoảng 10 phút thì S xuất tinh vào trong âm hộ của chị Q. Sau khi quan hệ tình dục xong, S nằm trên giường ôm chị Q ngủ.
Thấy S đã ngủ, chị Q xuống khỏi giường đi vệ sinh. Chị Q gửi vị trí hiện tại của mình cho anh trai là Vũ Văn Q1 (sinh năm 1988, HKTT: Bình Thuận, Đ, Thái Nguyên) và nhắn nội dung: “Thanh Trì, nếu không có vấn đề gì thì mai em về” và gửi kèm hình ảnh chụp xe máy của S (chị Q chụp ảnh lúc ngồi ăn uống với S). Nhận được tin nhắn bất thường của chị Q, anh Q1 đi theo vị trí của chị Q gửi để tìm. Khoảng 01 giờ ngày 18/02/2024 anh Q1 đến trước cửa nhà nghỉ T1 và gọi điện thoại cho chị Q. Biết anh Q1 đến đón, chị Q lấy túi xách và nói với S: “có bạn đến đón rồi” và ra khỏi nhà nghỉ T1. Anh Q1 đã dẫn chị Q đến Công an xã N, T, Hà Nội để trình báo sự việc.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện T tạm giữ những đồ vật, tài sản như sau:
- Tạm giữ của S: 01 xe máy Honda Airblade BKS: 29M1895.32, 01 Đăng ký xe BKS đăng ký BKS: 29M1895.32, 01 điện thoại di động Redmi 13C màu xanh, 01 CCCD, 01 Giấy phép lái xe A1 mang tên Nguyễn Văn S, 01 quần bò màu xanh, 01 áo phông cộc tay màu xanh, 01 áo khoác màu xanh.
- Tạm giữ của chị Vũ Thị Q: 01 điện thoại di động XSM màu trắng đã cũ, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu hồng đã cũ, 01 áo khoác kiểu giả da màu đen cổ kiểu lông trắng, 01 áo lót màu đen, 01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 quần đùi giả da màu đen, 01 quần lót màu đen.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tình dục và AND đối với Vũ Thị Q và Quyết định giám định nghi can xâm hại tình dục đối với Nguyễn Văn S.
Kết luận giám định xâm hại tình dục số 218/KLXHTD-TTPY ngày 27/02/2024 của Trung tâm H2 đối với chị Vũ Thị Q.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Thị Q tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Màng trinh của chị Vũ Thị Q: Có vết rách cũ vị trí 6 giờ, không có vết rách mới, không có vết sây sát sưng nề bầm tím. Lỗ màng trinh giãn.
Kết luận giám định ADN số 42/24/KLGDADN-PYHN ngày 27/02/2024 của Trung tâm H2: “ADN nhiễm sắc thể Y thu từ mẫu dịch âm đạo của Vũ Thị Q trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y của Nguyễn Văn S trên các locus Y-STR đã so sánh".
Kết luận giám định nghi can xâm hại tình dục số 182/KLNCXH- TTPY ngày 19/02/2024 của Trung tâm H2 kết luận đối với S:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn S tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Tại thời điểm giám định, bộ phận sinh dục ngoài của anh Nguyễn Văn S phát triển bình thường, không có thương tích.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với 01 xe máy Honda Airblade BKS: 29M1895.32, 01 đăng ký xe BKS đăng ký BKS: 29M1 – 895.32 là tài sản của chị Nguyễn Thu H, (sinh năm 1990, HKTT: Y, T, Hà Nội), chị H cho S mượn xe làm phương tiện đi lại, chị H không biết việc S vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe máy và 01 đăng ký xe cho chị H. Chị H nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với 01 điện thoại di động XSM màu trắng đã cũ, 01 điện thoại di động Iphone 6 màu hồng đã cũ, 01 áo khoác kiểu giả da màu đen cổ kiểu lông trắng, 01 áo lót màu đen, 01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 quần đùi giả da màu đen, 01 quần lót màu đen là tài sản của chị Q. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Q. Chị Q nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với 01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe A1 mang tên Nguyễn Văn S, 01 quần bò màu xanh, 01 áo phông cộc tay màu xanh, 01 áo khoác màu xanh là các giấy tờ tuỳ thân và tài sản của S, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động Redmi 13C màu xanh là tài sản của chị Nguyễn Thị H1 cho Nguyễn Văn S mượn để liên lạc, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về dân sự: Ngày 22/7/2024, gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị Q số tiền 30.000.000 đồng. Chị Q đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, không có yêu cầu gì khác về dân sự, đồng thời, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKSTT ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Hiếp dâm” theo khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Hiếp dâm” theo khoản 2 Điều 141 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn S mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.
Về dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
- Trả lại chị H1 01 điện thoại di động Redmi 13C màu xanh
- Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe A1 mang tên Nguyễn Văn S, 01 quần bò màu xanh, 01 áo phông cộc tay màu xanh, 01 áo khoác màu xanh;
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng; Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 22h00' ngày 17/02/2024, tại phòng 203 nhà nghỉ T1 ở xã N, huyện T, Hà Nội, Nguyễn Văn S đã uy hiếp tinh thần, đe dọa dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của chị Vũ Thị Q 02 lần.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm” quy định tại khoản 2 Điều 141 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, giảm một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và gây bất bình trong nhân dân, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần của bị hại. Bị cáo đã từng bị xử phạt về tội “Hiếp dâm”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được giáo dục pháp luật về cùng hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về dân sự: Ngày 22/7/2024, gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị Q số tiền 30.000.000 đồng. Chị Q đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Xử lý vật chứng:
01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe A1 mang tên Nguyễn Văn S là giấy tờ tùy thân của bị cáo, 01 quần bò màu xanh, 01 áo phông cộc tay màu xanh, 01 áo khoác màu xanh đã cũ đều là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo;
01 điện thoại di động Redmi 13C màu xanh là tài sản của chị H1 cho bị cáo mượn nên trả lại chị H1.
Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Hiếp dâm”
- Áp dụng: Khoản 2 Điều 141, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
- Xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S, 01 Giấy phép lái xe A1 số: AQ274049 mang tên Nguyễn Văn S, 01 quần bò màu xanh cổ màu vàng kem, 01 áo phông cộc tay màu xanh, 01 áo khoác màu xanh rêu;
- Trả lại chị H1 01 điện thoại di động Redmi 13C Imei: 868329067351761 màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng;
- Về dân sự: bị hại đã nhận tiền bồi thường 30.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xem xét.
- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.
Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/7/2024 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM: | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
|
|
|
NGUYỄN VĂN THẮNG |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN THẮNG |
8
Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (hiếp dâm)
- Số bản án: 155/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hiếp dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiếp dâm
