Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-PT

Ngày 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hà;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh; Ông Đặng Văn Quyết.

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Đình Đức – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 177/2024/TLPT-HS ngày 01/7/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C (tên gọi khác: không), sinh năm 1966.

Nơi đăng thường trú và chỗ ở: số nhà D, ngách A, ngõ D, tổ B phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nhân viên bảo vệ; trình độ học vấn phổ thông: 7/10; con ông: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1923 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1930; vợ: Hoàng Thị B, sinh năm 1976; có một con sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 49/HSST ngày 29/8/1991 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã được xóa án tích.
  • + Bản án hình sự phúc thẩm số 152/HSPT ngày 17/11/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích.
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 21/HSST ngày 09/3/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) xử phạt 10 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

* Bị cáo: Đỗ Thị H (Tên gọi khác: Đỗ Thị D), sinh năm:1961.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số nhà I, ngách A, ngõ C đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 7/10; con ông: Đỗ Đức T1, sinh năm 1935 (đã chết); con bà: Đoàn Thị N, sinh năm 1937 (đã chết; chồng: Nguyễn Văn P, sinh năm 1960 (đã ly hôn); bị cáo có hai con: lớn sinh năm 1981, nhỏ sinh năm 1988; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trứ", tại ngoại, (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Bà Đỗ Thị H (tên gọi khác: Đỗ Thị D), sinh năm:1961.

Nơi ĐKHKTT và cư trú: Số nhà I, ngách A, ngõ C, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

* Người bào chữa và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo Đỗ Thị H, bị hại Đỗ Thị H:

  1. Luật sư Dương Minh K –Văn phòng luật sư Dương Minh N1. Địa chỉ: số H, đường N, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).
  2. Luật sư Vũ Trọng B1 – Văn phòng luật sư C2 và cộng sự. Địa chỉ: số A, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
  3. Trợ giúp viên pháp lý Giáp Thị H1 - Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Giang, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).

Người tham gia tố tụng khác: vụ án còn có nguyên đơn dân sự và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C.

Năm 2022, ông Dương Văn C3, sinh năm 1957, trú tại số nhà B, đường C, phường H, thành phố B làm Chủ tịch hội đồng quản trị và là người đại diện pháp luật của Công ty C5 và khai thác chợ C5 – VINACONEX3 nhận quản lý và vận hành chợ T4 - Bắc Giang. Ông C3 thuê Nguyễn Văn C, sinh năm 1966, trú tại số nhà D, ngách A, ngõ D, đường M, tổ B, phường M, thành phố B và một số người khác làm nhân viên bảo vệ chợ.

Khoảng tháng 6/2022, ông C3 thuê bà Đỗ Thị H (tên gọi khác: Đỗ Thị D), sinh năm 1961, trú tại số nhà I, ngách A, ngõ C, đường C, phường L, thành phố B (là người khuyết tật nặng) nắm bắt tình hình hoạt động của các tiểu thương rồi cung cấp thông tin cho ông C3 để phục vụ công tác quản lý. Ông C3 mua cho bà H 01 chiếc điện thoại di động Iphone X và 01 sim trả sau để liên lạc. Khoảng tháng 8/2022, ông C3 đưa cho bà Hằng số tiền 30.000.000 đồng; đến ngày 28 giáp tết (âm lịch) đưa thêm 20.000.000 đồng. Ngày 08/2/2023, ông C3 không thuê bà H nữa nên đã khóa sim điện thoại cấp cho bà H. Bà H cho rằng ông C3 còn nợ 36.000.000 đồng tiền công nên đã nhiều lần đến văn phòng Ban quản lý chợ Thương để đòi nhưng ông C3 không đồng ý nên hai người phát sinh mâu thuẫn.

Khoảng 16 giờ ngày 01/04/2023, bà H đi lên văn phòng Ban quản lý chợ Thương mục đích tìm gặp ông C3 để đòi tiền lương. Bà H bảo ông C3 trả tiền nhưng ông C3 không tiếp và gọi điện thoại cho Nguyễn Văn C đi lên để yêu cầu bà H đi ra ngoài. C bảo ông Vũ Mai T2, sinh năm 1975 cũng là nhân viên bảo vệ cùng đi. Khi bà H đứng ở hành lang trước cửa văn phòng thì C đi đến nói “Con mụ dở này, cút đi không tao trói đưa ra Công an” nhưng bà H không xuống và chửi. C dùng tay phải túm vào cổ áo bà H kéo lôi bà H về phía cầu thang, yêu cầu đi xuống nhưng bà H không xuống. C bảo ông T2 đi lấy dây để trói bà H đưa đến Công an giải quyết. Trong lúc ông T2 đi xuống tầng 1 thì giữa C và bà H tiếp tục giằng co nhau từ ngoài vào văn phòng. Ông T2 đi xuống bãi gửi xe lấy 01 đoạn dây dù đưa cho ông Vũ Tuấn K1 là nhân viên bảo vệ cầm lên. Tuy nhiên, ông K1 đút sợi dây trong túi quần và không đưa cho C. Trong văn phòng, C tiếp tục lôi kéo bà H ra bên ngoài. Lúc này, ông C3 dùng điện thoại di động quay lại diễn biến sự việc. C dùng tay phải vặn tay trái bà H về phía sau lưng làm bà H khuỵu xuống. Sau đó, C dùng chân trái giơ lên gối trúng vào cằm bên trái của bà H rồi túm cổ áo kéo, đẩy bà H nằm ngửa xuống nền nhà. Khi bà H đang nằm dưới nền nhà thì bị C dùng bàn chân trái dẫm lên gò má phải. Hai người tiếp tục xô đẩy nhau. Bà H dùng củi trỏ thúc và dùng chân đạp vào vách tường thạch cao trong phòng làm vách tường bị thủng. Sau đó, bà H đi ra ngoài hành lang cầm chiếc bình cứu hỏa đập vào tường thạch cao ở hành lang cửa ra vào. Lúc này, Công an phường T đi đến giải quyết thì bà H đi về nhà. Buổi tối cùng ngày, bà H nhờ bà Vũ Thị T3, sinh năm 1975, trú tại số nhà A đường N, phường H, thành phố B dùng điện thoại di động chụp ảnh các vết thương. Ngày 02/4/2023, bà H có đơn đề nghị khởi tố đối với Nguyễn Văn C về hành vi cố ý gây thương tích.

Ngày 03/4/2023, bà Đỗ Thị H đến Trạm y tế phường L, thành phố B khám, xác định bị các thương tích sau: Mu bàn tay trái sưng đau; Cổ tay trái có các vết bầm tím rải rác khoảng 1cm², mặt trong cánh tay trái có vết bầm tím; Khớp khuỷu tay trái sưng đau; Vùng cằm bên trái có vết bầm tím khoảng 2x3cm; G mà phải bị sưng đỏ. Chẩn đoán: Đa chấn thương phần mềm do người khác đánh.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thương tích của bà Đỗ Thị H. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1394 ngày 17/5/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • - Thương tích vết biến đổi sắc tố da mu bàn bàn tay trái 01%
  • - Thương tích chạm thương cổ tay trái không còn dấu vết: 0%
  • - Thương tích chạm thương mặt trong cánh tay trái không còn dấu vết: 0%
  • - Thương tích vết biến đổi sắc tố da khuỷu tay trái: 01%
  • - Thương tích vết biến đổi sắc tố da cằm trái: 01%
  • - Thương tích vết biến đổi sắc tố da gò má phải: 0,5%
  • - Kiểm tra vùng cổ không thấy dấu vết thương tích: 0%.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đỗ Thị H tại thời điểm giám định là 03%, áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

3. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên".

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video thu giữ tại điện thoại di động của ông Dương Văn C3. Kết luận giám định số 1211/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video thời lượng 04 phút 25 giây được lưu trữ trong 01 USB gửi giám định;

2. Nội dung hội thoại được dịch ra văn bản

3. Trích xuất được 18 hình ảnh thể hiện hành động của người đàn ông với người phụ nữ trong file video gửi giám định.”

Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn C xem lại đoạn video đã thu giữ. Kết quả C xác định có hành ảnh C thực hiện hành vi bẻ tay bà H về phía sau, dùng đầu gối trái thúc vào cằm, dùng bàn chân trái dẫm lên gò má phải bà H gây thương tích.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá thiệt hại các tấm thạch cao. Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐG ngày 08/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Tổng chi phí sửa chữa toàn bộ các vết vỡ, thủng, rạn nứt, bong tróc của các tấm thạch cao trên tường thạch cao thời điểm ngày 01/4/2023 là 1.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, bà Đỗ Thị H khai sau khi xảy ra xô xát với Nguyễn Văn C vào buổi chiều ngày 01/4/2023 thì phát hiện bị mất 01 sợi dây chuyền khối lượng 02 cây vàng Ý. Nguyễn Văn C, ông Dương Văn C3, ông Vũ Mai T2, ông Vũ Tuấn K1 đều khai không để ý bà H có đeo dây chuyền vàng hay không và cũng không biết việc bà H bị mất dây chuyền vàng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định flie video do ông Phạm Minh S giao nộp ghi lại hình ảnh bà H đi lại tại khu vực chợ T4 vào buổi chiều ngày 01/4/2023 thời điểm sau khi bị ông C đánh. Kết luận giám định số 1098/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong flie video có tên "4.MP4" dung lượng 0,99GB, thời lượng 01 giờ 22 phút 12 giây được lưu trữ trong 01 USB gửi giám định;

2. Quan sát thấy người phụ nữ mặc áo khoác dài tay tối màu có khóa kéo ở phía trước, mặc quần dài màu vàng-đen xuất hiện trong khung hình file video có vật phản xạ với ánh sáng ở 2 bên cổ (không xác định được là vật gì).

Trích xuất được 16 hình ảnh của người phụ nữ với các đặc điểm trong flie video gửi giám định.”

2. Hành vi của bị cáo Đỗ Thị H

Khoảng 09 giờ 55 phút ngày 04/4/2023, Đỗ Thị H đi xe máy điện đến chợ T4. H dựng xe ở giữa lối ra vào bãi xe rồi đi vào trong. Tại đây, H gặp ông K1 và ông T2 đang làm nhiệm vụ bảo vệ ở bãi xe, do mâu thuẫn và bực tức từ trước nên H chửi. Sau đó, H đã tự cởi hết quần áo đang mặc trên người để quần áo lên xe máy điện rồi đi lại trên đường ở khu vực phía trước cổng bãi xe số 1, vừa đi vừa chửi ông C3. Một lúc sau, cán bộ Công an phường T đến giải quyết sự việc, yêu cầu H mặc quần áo và dùng tấm vải quây vào người H nhưng H không đồng ý và tiếp tục có lời nói thách thức. H không mặc quần áo, đi lại và có những lời nói, chửi xúc phạm ông C3 và Ban quản lý chợ T4. H đi lại một lúc rồi ngồi xuống đi tiểu tiện trên đường, đuổi khách đến mua hoa quả tại cửa hàng. Công an phường T giải thích, yêu cầu H chấm dứt hành vi nêu trên. Cán bộ Ủy ban nhân dân phường T và quần chúng nhân dân đã vận động H mặc quần áo, nhưng H vẫn không chấp hành, tiếp tục có hành vi chửi gây mất trật tự, gây phản cảm ở khu vực chợ T4. Sau khi được vận động khoảng 20 phút thì H mới mặc quần áo và đi về Công an phường T làm việc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đi ra chợ T4 mua 01 con dao quắm dài khoảng 95 cm. H cầm dao đi bộ quanh khu vực trước cổng bãi xe số 1, vừa đi vừa chửi ông T2 và ông K1. Lúc này, ông K1 đang nằm ở võng trong bãi xe gần cổng ra vào. H đi vào bãi xe dùng dao quắm chém liên tiếp 02 nhát vào 01 chiếc ghế nhựa làm vỡ mặt ghế rồi đi ra ngoài bãi xe. Khoảng 10 phút sau, H quay lại dùng dao quắm chém liên tiếp 03 nhát vào chiếc ô che có khung bằng kim loại làm rách vải bạt. Sau đó, Công an phường T biên bản sự việc, thu giữ 01 ghế nhựa bị vỡ; 01 chiếc ô có khung bằng kim loại có 03 vết rách; 01 đôi dép nữ; 01 con dao quắm bằng kim loại dài 95 cm.

Ngày 04/4/2023, ông Dương Văn C3 có đơn trình báo và Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý Đỗ Thị H về hành vi gây rối trật tự công cộng vì đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn.

Ngày 24/5/2023, anh Phạm Minh S, nhân viên Công ty cổ phần C5 3 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 USB có các video ghi lại diễn biến sự việc. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các file video do anh S giao nộp. Kết luận giám định số 1099/KL-KTHS ngày 15/6/2023 và Kết luận giám định bổ sung số 1210/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong flie video được lưu trữ trong 01 USB gửi giám định. Trích xuất được 04 hình ảnh có liên quan và xác định nội dung các câu nói của Đỗ Thị H.” Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Thị H xem lại các video thu giữ, kết quả H xác định có hình ảnh H thực hiện các hành vi như đã khai.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá các tài sản mà H dùng dao làm hư hỏng. Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐ ngày 08/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 chiếc ghế tựa màu nâu có chữ Việt Nhật, đã qua sử dụng, bị vỡ nhiều vị trí trị giá là 73.000 đồng. Chi phí sửa chữa 01 chiếc ô che, đã qua sử dụng, có khung bằng kim loại, chân ô bằng ống tuýp kim loại, mái che bằng vải nâu đỏ kích thước 2,8 x 03m, không có nhãn hiệu, trên mái che có 3 vết rách chiều dài lần lượt 35 cm, 55cm, 65cm trị giá là 200.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị hư hỏng là 273.000 đồng.”

Ngoài ra, ngày 03/4/2023, H có hành vi dùng dao rạch rách chiếc bạt in phun biển bãi gửi xe của Công ty cổ phần C5 và khai thác chợ C5 VINACONEX3. Kết luận định giá tài sản số 212/KL-HĐĐG ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác định bộ phận cần sửa chữa, khắc phục và tiền công sửa chữa của 05 tấm bạt in phun, đã qua sử dụng là 150.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tâm thần đối với Đỗ Thị H. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 171/KLGĐ ngày 17/10/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận:

“1. Đỗ Thị H, sinh năm 1961, trú tại số nhà I, ngách A, ngõ C, đường C, tổ dân phố Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, bị bệnh Động kinh không có rối loại tâm thần.

2. Tại thời điểm gây rối trật tự công cộng vào ngày 04/4/2023 và bị đánh gây thương tích ngày 01/4/2023, Đỗ Thị H bị bệnh Động kinh không có rối loại tâm thần. Đỗ Thị H đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

3. Hiện tại (thời điểm giám định) Đỗ Thị H bị bệnh Động kinh không có rối loại tâm thần. Đỗ Thị H đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.”

Bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm i khoản 1 điều 134 của Bộ luật hình sự 2015, thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ”; truy tố bị cáo Đỗ Thị H (tên gọi khác Đỗ Thị D) về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, thuộc trường hợp “dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”.

Từ nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xử:

Điều luật, mức hình phạt áp dụng:

  • + Căn cứ điểm a khoản 2 điều 106, điều 135, điều 136, điều 331, điều 332, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Các điều: 584, 585, 587, 588, 589, 590 của BLDS năm 2015; Điều 3; điểm đ khoản 1 điều 12; điều 21; điểm a khoản 1 điều 23, điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với các bị cáo.
  • + Căn cứ điểm i khoản 1 điều 134; điểm s khoản 1 điều 51; điểm k khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bẩy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  • + Căn cứ điểm b khoản 2 điều 318; Điểm b, p, s khoản 1 điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Thị H (tên gọi khác: Đỗ Thị D) 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Gây rối trật tự công cộng". Thời gian thử thách của bản án là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/5/2024.

Giao bị cáo Đỗ Thị H (tên gọi khác: Đỗ Thị D) cho UBND phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong thời gian thử thách của bản án, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 22/5/2024 bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo. Nội dung kháng cáo: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Ngày 22/5/2024, bị hại Đỗ Thị H có đơn nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn C, với nội dung: sau khi xét xử xong C đã đến gia đình bà để xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho bà. Bà thấy bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm của mình, bản thân bà cũng vì tình cảm và thông cảm hoàn cảnh của bị cáo. Bà đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cho bà được rút đơn đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn C. Việc rút đơn của bà là hoàn toàn tự nguyện. Đơn của bà H có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường L.

* Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn C trình bày: về tội danh và điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bị hại là bà Đỗ Thị H đã có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo bị cáo không xin giảm nhự hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo nữa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc xin rút đơn đề nghị khởi tố vụ án của bị hại, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với vụ án.

* Bị hại là bà Đỗ Thị H trình bày: bà thấy bị cáo Chung đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình, hoàn cảnh khó khăn nên bà rút đơn đề nghị khởi tố đối với bị cáo. Việc xin rút đơn khởi tố của bà là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai xúi giục, ép buộc. Đề nghị giải quyết theo quy định, để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: căn cứ khoản 2, Điều 155 và Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

Bị cáo đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: đơn kháng cáo của bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không triệu tập.

[3]. Xét hành vi của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của Đỗ Thị H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 01/4/2023, tại văn phòng làm việc của ban T4 thuộc công ty cổ phần C5 và khai thác chợ C5 VINACONEX 3, trong quá trình lôi, kéo bà Đỗ Thị H ra bên ngoài, bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi dùng tay phải vặn tay trái bà H về phía sau lưng làm bà H khuỵu xuống, dùng chân trái giơ, lên gối trúng vào cằm bên trái của bà H rồi túm cổ áo kéo, đẩy bà H nằm ngửa xuống nền nhà và dùng bàn chân trái dẫm lên gò má phải của bà H, hậu quả làm bà Đỗ Thị H bị thương tích với kết quả giám định tổn thương là 03% (Ba phần trăm).

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm nêu là đúng, không oan. Do đó, Bản án sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.

[4]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Hội đồng xét xử xét thấy:

Việc bị hại là bà Đỗ Thị H có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Căn cứ khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang để hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

Lý do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn C do bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không phải lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm. Bị cáo Chung không có quyền yêu cầu bồi thường do đình chỉ vụ án.

Bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Án sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường cho bị hại Đỗ Thị Hằng số tiền 5.400.000đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Tại cấp phúc thẩm, bà H trình bày sau khi án sơ thẩm xử xong bị cáo bồi thường đủ cho bà, bà không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại cấp phúc thẩm, do bà H không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự, nên không xem xét giải quyết.

[6]. Bản án sơ thẩm còn giải quyết phần hình sự, trách nhiệm dân sự, án phí đối với Đỗ Thị H về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm không có ai kháng cáo, không có kháng nghị về phần của bản án giải quyết đối với H. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực đối với phần xét xử Đỗ Thị H kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7]. Về án phí: Do huỷ một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án đối với bị cáo C4 nên bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Bà Đỗ Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Tuy nhiên, do bà H là người khuyết tật nên bà H được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm số 88/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Văn C.
  2. Án phí: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Buộc Nguyễn Văn C phải chịu 300.000đồng (Ba tram nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Bà Đỗ Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND thành phố Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công TT điện tử của TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - TỔ HC, TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Hải Vinh Đặng Văn Quyết

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội "cố ý gây thương tích" và tội "gây rối trật tự công cộng"

  • Số bản án: 155/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Cố ý gây thương tích" và tội "Gây rối trật tự công cộng"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Nguyễn Văn C (tên gọi khác: không), sinh năm 1966. Nơi đăng thường trú và chỗ ở: số nhà D, ngách A, ngõ D, tổ B phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nhân viên bảo vệ; trình độ học vấn phổ thông: 7/10; con ông: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1923 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1930; vợ: Hoàng Thị B, sinh năm 1976; có một con sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger