|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2023/HSST Ngày 26 tháng 12 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mười và ông Chu Hồng Thái.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngân, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 148/2023/TLST - HS ngày 30/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2023/QĐXXST-HS ngày 15/12/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Xuân Đ, sinh ngày 21/12/1989. Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Y, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Làm ruộng.
Con ông Hoàng Xuân Đ1; con bà Lê Thị H.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2. Có vợ là Trần Thị T, sinh năm 1991 (đã ly hôn); con: Có 01 con là Hoàng Phương T1, sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị H, sinh năm 1962. Cư trú: Xóm Y, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).
* Người bị hại: Ông Hoàng Văn M, sinh năm 1972. Cư trú: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
* Người làm chứng: Ông Dương Văn H1, sinh năm 1986. Cư trú: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 17/9/2023, Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo về việc có 01 nam thanh niên trộm cắp 02 thùng Ong mật của gia đình anh Hoàng Văn M, trú tại xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã bị quần chúng nhân dân bắt giữ. Tổ công tác Công an xã M đã đến xảy xa sự việc thì thấy anh M cùng một số người dân đang giữ một nam thanh niên. Tiến hành kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Hoàng Xuân Đ, do nghiện chất ma túy nên Đ đã trộm cắp được 01 thùng Ong của gia đình anh M đem cất giấu tại bụi bỏ ở lề đường cách nhà anh M khoảng 40m, sau đó Đ quay lại mở nắp thùng Ong thứ 2 để kiểm tra và trộm cắp tiếp thì bị ông M cùng một số người dân phát hiện, bắt giữ.
Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng gồm:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, mầu đen, Biển kiểm soát (BKS): 20C1-15712, không có gương, đã cũ, đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết xước, số khung: RLCUE1340FY001096, số máy 1FC00YV-3;
+ 02 thùng bằng gỗ dùng để nuôi Ong mật, kích thước cao 30cm, dài 52cm, rộng 32cm. Bên trong thùng có đựng 06 cầu ong nuôi mật.
Khoảng hơn 22 giờ ngày 17/9/2023, anh Hoàng Văn M có đơn trình báo, Công an xã M căn cứ kết quả xác minh, xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nên đã chuyển hồ sơ, vật chứng, đối tượng Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Xuân Đ khai như sau: Bản thân Đ là người nghiện chất ma túy. Do nhiều lần Đ đi qua khu vực xóm L, xã M nên phát hiện thấy một nhà dân không có tường rào, không có cửa cổng (sau này Đ biết đó là nhà anh Hoàng Văn M, sinh năm 1972, trú tại: Xóm L, xã M, huyện Đ thường xuyên vắng nhà, tại vị trí khu vườn ở sát tường bên trái nhà ông M (hướng từ cửa chính vào) có để 03 thùng bằng gỗ để nuôi Ong nên Đ nảy sinh trộm cắp đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/9/2023, Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, mầu đen, BKS: 20C1-15712, (chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên Lê Thị H, địa chỉ xóm Y, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) đi đến nhà anh M để trộm cắp các thùng nuôi Ong mật nêu trên. Khi Đ đi đến đoạn đường dân sinh trước cửa nhà anh M thì phát hiện nhà cửa nhà anh M đóng, điện trong nhà sáng, không có ai trông nhà. Đô đỗ xe mô tô ở đường liên xóm ở phía trước cách cửa nhà anh M khoảng 30m rồi đi bộ qua bãi chè vào vị trí chỗ 03 thùng Ong, Đ mở thùng Ong ra kiểm tra thấy bên trong có các cầu O có nuôi Ong mật trên các cầu O. Đ dùng tay bê 01 thùng đem đến giấu ở bụi cỏ ở rìa đường cách vị trí xe mô tô của Đ khoảng 40m. Sau đó, Đ quay lại vị trí vườn, dùng tay mở nắp thùng ong thứ 02 để kiểm tra thấy bên trong thùng có cầu nuôi Ong mật, Đ định trộm cắp tiếp thì bị anh M cùng anh Dương Văn H1, sinh năm 1986, trú tại: xóm L, xã M, huyện Đ phát hiện nên Đ bỏ chạy về phía xe mô tô thì bị anh M và anh H1 giữ lại. Đ đã khai nhận bản thân vừa trộm cắp 01 thùng ong giấu ở rìa đường, rồi bê thùng Ong trả về vị trí Đ đã lấy trộm lúc đầu để trả anh M.
Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: “Giá trị 02 thùng Ong mật, bằng gỗ, có cùng kích thước (52 x 32 x 30)cm bên trong mỗi thùng có chứa 06 cầu đang nuôi Ong mật. Tại thời điểm tháng 9/2023, có giá 2.500.000 đồng”.
Bản cáo trạng số 152/CT-VKSĐT ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hoàng Xuân Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt; đối với bị hại, anh M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa cũng như các tài liệu có trong hồ sơ thì tại cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát Đại Từ, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, xác định không sai, không bị oan và không có tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát. Người làm chứng anh Dương Văn H1 và bị hại là anh Hoàng Văn M vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có các bản khai lưu trong hồ sơ trình bày rõ và đầy đủ nội dung hành vi phạm tội của Đ, người CQLNVLQ là bà Lê Thị H (mẹ đẻ của Đ) cũng thống nhất với nội dung sự việc như cáo trạng của Viện kiểm sát. Qúa trình điều tra vụ án, Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2]. Tại phiên tòa vắng mặt Người làm chứng anh Dương Văn H1 và bị hại là anh Hoàng Văn M, đại diện Viện kiểm sát và bị cáo nhất trí về sự vắng mặt của họ. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, quá trình giải quyết vụ án đã có đầy đủ lời khai của người làm chứng và bị hại, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bản khai của bị hại, người làm chứng có trong hồ sơ cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/9/2023, Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, mầu đen, BKS: 20C1-15712 đi đến nhà anh M để trộm cắp các thùng nuôi Ong mật nêu trên. Khi đi đến đoạn đường dân sinh trước cửa nhà anh M thì phát hiện nhà cửa nhà anh M đóng, điện trong nhà sáng, không có ai trông nhà. Đô đỗ xe mô tô ở đường liên xóm ở phía trước cách cửa nhà anh M khoảng 30m rồi đi bộ qua bãi chè vào vị trí chỗ 03 thùng Ong, Đ mở thùng ong ra kiểm ra thấy bên trong có các cầu ong nuôi ong mật. Đ dùng tay bê 01 thùng đem đến giấu ở bụi cỏ ở rìa đường cách vị trí xe mô tô của Đ khoảng 40m. Sau đó, Đ quay lại vị trí vườn, dùng tay mở nắp thùng ong thứ 02 để kiểm tra thấy bên trong thùng có các cầu ong nuôi ong mật, Đ định trộm cắp tiếp thì bị anh M cùng anh Dương Văn H1 phát hiện và giữ lại.
Bản cáo trạng số 152/CT-VKSĐT ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, truy tố đối với Hoàng Xuân Đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Cụ thể điều luật quy định như sau:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .........., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu được pháp luật hình sự quy định bảo vệ, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo Hoàng Xuân Đ không có tiền án, tiền sự là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện ma túy để phục vụ nhu cầu của bản thân nên vẫn cố tình vi phạm, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa thấy bị cáo Hoàng Xuân Đ “thành khẩn khai báo”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” nên được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo đã thực hiện, qua xem xét, đánh giá toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Nhưng tại địa phương xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, đi lang thang lợi dụng sơ hở của công dân để trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma túy phục vụ nhu cầu bản thân. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ trong quá trình điều tra vụ án đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và bản thân của Hoàng Xuân Đ nên đã quyết định bắt tạm giam không cho tại ngoại đối với Đ là phù hợp. Để đảm bảo sự an ninh, trật tự xã hội, góp phần tạo sự bình yên của nhân dân trong dịp đón Tết nguyên đán Giáp Thìn, Hội đồng xét xử cần cân nhắc có hình phạt thích hợp để nhằm răn đe, giáo dục cải tạo đối với Hoàng Xuân Đ.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đ là đối tượng nghiện ma túy không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung.
[7] Về vật chứng vụ án:
+ 01 chiếc xe máy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupitur, BKS:20C1-15712 có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 004414 cấp ngày 04/01/2016 mang tên Lê Thị H, địa chỉ xóm Y, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (mẹ đẻ của Đ). Xét thấy, do bà H không biết Đ điều khiển xe đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xử lý và đã trả lại chủ sở hữu là bà Lê Thị H quản lý, sử dụng là phù hợp Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Đối với 02 thùng gỗ bên trong có 06 cầu ong mật, ngày 18/9/2023, Công an xã M đã giao lại cho gia đình anh Hoàng Văn M (chủ sở hữu) quản lý, nuôi dưỡng là phù hợp và anh M không có yêu cầu Đ bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt chính, xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Về các vấn đề khác: Việc bị cáo Đ khai bị tạm giữ từ ngày 17/9/2023 nhưng cáo trạng lại ghi tạm giam ngày 21/9/2023, các tài liệu trong hồ sơ thể hiện ngày 21/9/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ mới có Biên bản bắt bị can để tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 26/LB-ĐTTH ngày 20/9/2023 của Phó thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Quyết định phê chuẩn Lệnh bắt bị can để tạm giam số 31/QĐ-VKSĐT ngày 20/9/2023 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ. Sau khi được hỏi tại phiên tòa về việc nhận các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và có khiếu nại gì không, bị cáo Đ xác định có được nhận và không khiếu nại gì. Do đó không có căn cứ để xác định bị cáo Hoàng Xuân Đ bị bắt ngày 17/9/2023 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 299 của Bộ luật tố tụng hình sự:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 21/9/2023.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Hoàng Xuân Đ.
2. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí lệ phí tòa án:
Buộc bị cáo Hoàng Xuân Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đỗ Cao Vương |
Bản án số 155/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 155/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
