TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 155/2024/HSST Ngày: 26/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Quyết
Ông Lê Minh Tuấn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 153/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/01/1998, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và hiện ở tại: số A ngõ D P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974 và bà Dương Thị Hồng L, sinh năm 1975; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: 04/4/2024 - Tạm giam: 10/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Thành phố H. (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đình V - Sinh năm 2001; HKTT: số C H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số C P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Phương Hoàng T - Sinh năm 1995; HKTT: số G L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: ngõ A L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Phạm Tuấn T1 - Sinh năm 1994; HKTT: số C L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số I H, phường H, quận H, thành Phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h ngày 04/4/2024, tổ công tác của Công an phường P kiểm tra nhân hộ khẩu tại nhà số A ngõ D P, phường P, quận H, Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn D đang ngủ tại tầng 2 có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, D tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc hộp kim loại màu xanh, bên trong chứa 01 (một) túi nilông màu hồng chứa 59,191 gam thảo mộc; 46 (bốn mươi sáu) túi nilông chưa qua sử dụng; 01 (một) cân điện tử màu đen nhãn hiệu Mingheng Pocket Scale. D khai nhận là ma tuý cần sa cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời, D đã bán ma túy trót lọt cho Nguyễn Đình V (SN: 2001; ĐKHKTT: Số C H, phường H, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: C P, phường P, Quận H, Hà Nội) và 01 người đàn ông sử dụng số điện thoại 0928.263.xxx. Tổ công tác đã đưa D cùng tang vật về trụ sở Công an phường để giải quyết.
Thu giữ của Nguyễn Văn D: 01 hộp kim loại màu xanh kích thước khoảng (7,5x9,5x17,5)cm bên trong có: 01 túi nilông màu hồng bên trong có các cụ thảo mộc khô; 46 túi nilông kích thước khoảng (4x7)cm chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím, kèm sim số 0942747397 đã qua sử dụng; 01 chiếc cân điện tử màu đen, nhãn hiệu Mingheng Pocket kích thước khoảng 2x8x11cm.
Tại bản kết luận giám định số: 2661/KL-KTHS ngày 13/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Các cục thảo mộc khô bên trong 01 (một) túi nilông màu hồng đều là ma tuý Cần sa. Tổng khối lượng: 59,191 gam. 01 (một) cân điện tử màu đen, nhãn hiệu M có dính ma tuý cần sa.
Kiểm tra điện thoại của Nguyễn Văn D thu giữ nhiều tin nhắn trong ứng dụng Facebook với tài khoản “Nguyễn Đình V” có nội dung trao đổi mua bán trái phép chất ma túy. Kiểm tra D dương tính với chất ma túy THC.
Căn cứ lời khai của D, cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Đình V làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Xét nghiệm V dương tính với chất ma túy THC. Thu giữ của Nguyễn Đình V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen kèm sim số 0969692960 đã qua sử dụng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai: Bản thân D nghiện ma tuý cần sa nên nảy sinh ý định mua cần sa để sử dụng và ai hỏi mua thì sẽ bán. Trước khi bị bắt khoảng 01 tháng, D đã mua ma túy Cần sa của 01 đối tượng không quen biết trên mạng xã hội. Nhận được ma túy, D cất giấu tại nơi ở của mình nhằm mục đích sử dụng và đã nhiều lần bán ma túy trót lọt cho các con nghiện. D thường nhận tiền bán ma túy bằng cách chuyển vào số tài khoản 1210111111197 của D mở tại Ngân hàng TMCP Q, cụ thể:
- Lần thứ 1: Ngày 09/03/2024, D bán trót lọt 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) ma túy cần sa cho Phạm Tuấn T1 (SN: 1994; ĐKHKTT: SỐ C L, phường H, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: I H, phường H, quận H, Hà Nội).
- Lần thứ 2: Ngày 11/03/2024, D bán trót lọt 01 gam ma tuý Cần sa với giá 250.000 đồng (Hai trăm năm mười nghìn đồng) cho Phương Hoàng T (SN: 1995; HKTT: Số G L, phường L, quận H, Hà Nội).
- Lần thứ 3: Ngày 21/03/2024, D bán trót lọt 02 gam ma tuý Cần sa với giá 500.000 đồng (Hai trăm năm mười nghìn đồng) cho Phương Hoàng T.
- Lần thứ 4: Ngày 16/03/2024, D bán 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) ma túy Cần sa cho Phạm Tuấn T1.
- Lần thứ 5: Ngày 18/03/2024, D bán 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) ma túy Cần sa cho Phạm Tuấn T1.
- Lần thứ 6: Ngày 25/03/2024, D bán 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) ma túy Cần sa cho Phạm Tuấn T1.
- Lần thứ 7: Ngày 28/03/2024, D bán 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ma túy Cần sa cho Phạm Tuấn T1.
- Lần thứ 8: D bán trót lọt 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi ngàn đồng) ma túy Cần sa cho người đàn ông sử dụng số điện thoại 0928.263.xxx ở đầu ngõ D P, phường P, quận H, Hà Nội. Trả tiền mua ma túy bằng tiền mặt.
- Lần thứ 9: Ngày 01/4/2024, Nguyễn Văn D bán trót lọt:
- + Duy bán 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ma tuý cần sa cho Nguyễn Đình V.
- + D bán 1.000.000 đồng (một triệu đồng) ma túy cần sa cho Phạm Tuấn T1.
- Lần thứ 10: Ngày 03/4/2024, D bán 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) ma túy cần sa cho Nguyễn Đình V.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ tại nhà, D khai: Ngày 01/4/2024, D đã hỏi mua 50 gam ma túy Cần sa với giá 1.500.000 đồng của một người không quen biết trên mạng xã hội Telegram. Khoảng 11h cùng ngày, D được 01 lái xe công nghệ (D không nhớ rõ hãng công nghệ nào) đến giao 01 hộp được quấn băng dính màu đen bên trong có chứa ma túy cần sa. Nhận được ma túy, D cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán nếu có người hỏi mua. Đến ngày 04/4/2024, D bị kiểm tra, phát hiện và bắt giữ như đã nêu trên. Điện thoại thu giữ là tài sản của D sử dụng để liên lạc mua, bán trái phép chất ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đình V khai: Ngày 01/4/2024, V đã mua 300.000 đồng ma túy Cần sa của Nguyễn Văn D tại đầu ngõ D P. Nhận được ma tuý, V mang về nhà và sử dụng một mình hết. Đến khoảng 06 giờ 22 phút ngày 02/4/2024, V chuyển khoản số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) gồm 300.000 đồng tiền mua ma tuý và 150.000 đồng tiền nợ từ số tài khoản 1243496895 mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 của V đến tài khoản số 1210111111197 mở tại Ngân hàng TMCP Q của Nguyễn Văn D để trả tiền tiền mua ma tuý ngày 01/4/2024. Đến ngày 03/4/2024, V tiếp tục mua 150.000 đồng ma túy cần sa của D, V đã sử dụng hết nhưng chưa trả tiền cho D. Chiếc điện thoại bị thu giữ là tài sản của V, sử dụng để liên lạc với gia đình bạn bè và có sử dụng để liên lạc với D mua ma túy cần sa. Xét nghiệm Nguyễn Đình V dương tính với chất ma túy THC nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với V về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Phương Hoàng T khai: Khi có nhu cầu mua ma tuý cần sa, T thường gọi điện, nhắn tin cho D qua tài khoản Messenger tên “Ba Duy”. Ngày 11/03/2024, T mua 01 gam ma tuý cần sa giá 250.000 đồng (Hai trăm năm mười nghìn đồng). Ngày 21/03/2024, T mua 02 gam ma tuý cần sa giá 500.000 đồng (Hai trăm năm mười nghìn đồng). Các lần mua ma túy đều thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản số 7173151995 của T tại Ngân hàng TMCP K1 đến tài khoản số 1210111111197 tại Ngân hàng TMCP Q của Nguyễn Văn D. Cả hai lần mua ma tuý đều giao tại quán G, địa chỉ số F B, phường C, quận H, Hà Nội và T đều đã sử dụng một mình hết. Xét nghiệm T âm tính với các chất ma túy nên cơ quan điều tra không có hình thức xử lý với T.
Phạm Tuấn T1 khai: Khi có nhu cầu mua ma tuý cần sa, T1 gọi điện, nhắn tin cho D qua tài khoản Messenger tên “Ba Duy”. Trong tháng 3/2024, T1 có mua ma tuý cần sa của D 06 (sáu) lần, đều thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ số 19027966907777 của T1 tại Ngân hàng TMCP K1 đến tài khoản số 1210111111197 mở tại Ngân hàng TMCP Q của Nguyễn Văn D như đã nêu trên. Các lần mua bán ma tuý của D thường giao ở quán game tại địa chỉ số F B, Phường C, Quận H, Hà Nội hoặc giao khi cả hai đi ăn uống cùng nhau và T1 đều đã sử dụng một mình hết. Xét nghiệm T1 âm tính với các chất ma túy nên cơ quan điều tra không có hình thức xử lý với T1.
Về người bán ma túy cho Nguyễn Văn D, do D khai không biết tên tuổi địa chỉ, việc mua bán ma túy qua mạng xã hội T2, sau khi liên lạc mua ma túy thì D đã xóa tin nhắn nên cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0928.263.xxx hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn D, cơ quan điều tra xác định chủ đăng ký thuê bao là Nguyễn Anh T3 (sinh năm: 1984; ĐKHKTT: 72 Cầu G, phường H, quận H, Hà Nội). Tuy nhiên T3 bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 5/2024 đến nay chính quyền địa phương không rõ T3 ở đâu, làm gì nên không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Toàn bộ số tiền bán ma tuý bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 07( bảy) năm 06 ( sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù giam. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy, 02 sim điện thoại và một chiếc cân điện tử màu đen; Tich thu 01 điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím đã qua sử dụng do bị cáo dùng vào việc phạm tội; trả lại cho anh V 01 điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Redmi màu đen. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về định tội và hình phạt:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định là ma túy loại THC và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bản thân D nghiện ma tuý cần sa nên nảy sinh ý định mua cần sa để sử dụng và ai hỏi mua thì sẽ bán. Từ ngày 09/3/2024 đến ngày 03/4/2024, Nguyễn Văn D đã 09 lần bán trái phép ma túy Cần sa cho Nguyễn Đình V, Phương Hoàng T và Phạm Tuấn T1 trên địa bàn quận H, Hà Nội. Ngày 04/4/2024, Nguyễn Văn D bị Công an phường P bắt quả tang tàng trữ 59,191 gam ma túy Cần sa nhằm mục đích bán trái phép tại nhà số A ngõ D P, phường P, quận H, Hà Nội. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm xói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ mua bán ma tuý và ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự do đó phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng: Ma túy là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy và 01 cân điện tử màu đen, nhãn hiệu M có dính ma túy cần sa; Tịch thu sung công 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, đã qua sử dụng dùng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng nhưng không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho anh Nguyễn Đình V; Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Về đối tượng bán ma tuý, Nguyễn Văn D khai không biết tên, tuổi, địa chỉ đối tượng, việc mua ma túy là trực tiếp nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 07 ( bảy) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/4/2024.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp kim loại màu xanh được niêm phong, dán kín các mép, trên các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Văn D, người chứng kiến Nguyễn Văn D1, cán bộ Trần Đình Đ, giám định viên Phạm Trần N và hình dấu của Công an phường P. Bên trong có: các cục thảo mộc khô bên trong 01 túi nilông màu hồng đều là ma túy Cần sa, tổng khối lượng: 59,181 gam (PC09 trích mẫu giám định : 4,950 gam, còn lại 54,241 gam Cần sa); 01 cân điện tử màu đen, nhãn hiệu M có dính ma túy cần sa; 02 sim điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím đã qua sử dụng, không rõ chất lượng;
Trả lại cho anh Nguyễn Đình V: 01 điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.
Các tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 23/8/2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình V, anh Phương Hoàng T, anh Phạm Tuấn T1 vắng mặt có quyền kháng cáo phần quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lan Hương |
Bản án số 155/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 155/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D mua bán trái phép chất ma túy
