Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/DS-ST

23-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Khel
  2. Ông Phạm Hữu Thắng

Thư ký phiên Tòa: Ông Đặng Chí Thức – là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm Sát viên.

Trong các ngày 20 và 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/TLST-DS ngày 18/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • + Ông Phạm Tấn T, sinh năm 1955.
  • + Bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1959.

Cùng địa chỉ: Số F, đường N, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Ông Hồ Kiếm T1, sinh năm 1961 (có mặt);

Địa chỉ: Số C, đường L, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Bà Lâm Thị C (Tên thường gọi C1), sinh năm 1966. (vắng mặt)

Địa chỉ số: Số B, đường N, khóm F, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2024 của nguyên đơn ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X, cũng như tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của ông T, bà X là ông Hồ Kiếm T1 trình bày:

Vợ chồng ông T và bà X có quen biết với bà Lâm Thị C nhiều năm nên có cho bà C vay tiền nhiều lần, cụ thể:

  • Ngày 20/3/2023 vay số tiền 30.000.000 đồng.
  • Ngày 29/5/2023 vay số tiền 500.000.000 đồng.
  • Sáng ngày 06/6/2023 vay số tiền 500.000.000 đồng.
  • Chiều ngày 06/6/2023 vay số tiền 500.000.000 đồng
  • Tổng cộng 1.530.000.000 đồng.

Việc vay tiền có làm biên nhận, hai bên thoả thuận lãi suất 4%/tháng, trả lãi hàng tháng. Đối với khoản vay 1.000.000.000 đồng vào ngày 06/6/2023 và khoản vay 30.000.000 đồng vào ngày 20/3/2023 thoả thuận thời hạn vay là 01 tháng. Còn đối với khoảng vay 500.000.000 đồng vào ngày 29/5/2023 thoả thuận thời hạn vay là 02 tháng. Việc thoả thuận lãi suất chỉ thoả thuận miệng, không có ghi vào biên nhận. Mục đích vay để bà C đáo hạn ngân hàng. Sau khi vay bà C chưa trả tiền vốn vay. Đối với tiền lãi thì bà C mới trả được tổng số tiền 84.800.000 đồng (Trong đó: Đối với khoản vay ngày 20/3/2023 bà C trả lãi đến ngày 20/7/2023 (được 04 tháng) với số tiền 4.800.000 đồng. Đối với khoản vay ngày 29/5/2023 bà C trả lãi đến ngày 29/7/2023 (được 02 tháng) với số tiền 40.000.000 đồng. Đối với khoản vay ngày 06/6/2023 bà C trả lãi đến ngày 06/7/2023 (được 01 tháng) với số tiền 40.000.000 đồng). Việc trả lãi không có làm biên nhận cũng không có ai biết và chứng kiến.

Đối với số tiền lãi mà bà C đã trả cho ông bà vượt quá quy định là 49.466.668 đồng, ông T và bà X đồng ý trừ vào tiền vốn vay.

Nay ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Lâm Thị C trả cho ông T và bà X số tiền vốn còn lại là 1.480.533.332 đồng và tiền lãi là 312.384.443 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 1.792.917.775 đồng.

Đối với bị đơn bà Lâm Thị C, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà C nhưng bà C không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lâm Thị C, địa chỉ số B, đường N, khóm F, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền vốn và lãi là 1.792.917.775 đồng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm 1 Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Lâm Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

Theo các biên nhận nợ thể hiện nội dung bà Lâm Thị C có vay của ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X 04 lần với tổng số tiền 1.530.000.000 đồng, phía ông T, bà X cung cấp cho Toà án 04 bản chính biên nhận có chữ ký và chữ viết tên Lâm Thị C . Mặc khác, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã thông báo cho bà C biết yêu cầu khởi kiện cũng như các chứng cứ phía nguyên đơn ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X cung cấp cho Toà án, nhưng bà C không có ý kiến phản đối. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội Đồng xét xử xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

Do đó, có cơ sở xác định trên thực tế giữa ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X với bà Lâm Thị C có giao kết hợp đồng vay tài sản để vay số tiền là 1.530.000.000 đồng, các bên tiến hành giao kết Hợp đồng trên nguyên tắc tự nguyện, hình thức và nội dung Hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật, do đó hợp đồng trên có giá trị pháp lý và buộc các bên phải thực hiện theo đúng hợp đồng. Xét thấy bà C đã nhận của ông T và bà X số tiền vốn vay là

1.530.000.000 đồng, hai bên thoả thuận thời hạn trả nợ gốc là từ 01 đến 02 tháng kể từ ngày vay và trả lãi hàng tháng. Tuy nhiên, sau khi vay bà C đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn và lãi vay cho ông T và bà X theo đúng thỏa thuận nên đã vi phạm vào Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Tính đến nay bà C mới trả cho ông T và bà X được số tiền lãi là 84.800.000 đồng (cụ thể: Đối với khoản vay ngày 20/3/2023 bà C trả lãi đến ngày 20/7/2023 (được 04 tháng) với số tiền 4.800.000 đồng. Đối với khoản vay ngày 29/5/2023 bà C trả lãi đến ngày 29/7/2023 (được 02 tháng) với số tiền 40.000.000 đồng. Đối với khoản vay ngày 06/6/2023 bà C trả lãi đến ngày 06/7/2023 (được 01 tháng) với số tiền 40.000.000 đồng), chưa trả tiền vốn vay. Nay ông T và bà X đồng ý trừ số tiền lãi mà bà C trả dư so với mức lãi suất theo quy định vào số tiền vốn vay theo từng biên nhận vay tiền. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Lãi suất cho vay do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...” do các bên thoả thuận mức lãi suất 4%/tháng là cao hơn so với quy định nên phần tiền lãi mà bà C đã trả cho ông T và bà X cần được tính lại theo mức lãi suất 20%/năm, cụ thể như sau:

  • - Đối với khoản vay ngày 20/3/2023, lãi từ ngày 20/3/2023 đến ngày 20/7/2023 là 4.800.000 đồng x 1,666%/tháng x 04 tháng = 2.000.000 đồng, lãi trả dư 4.800.000 đồng - 2.000.000 đồng = 2.800.000 đồng được trừ vào tiền vốn. Như vậy số tiền vốn còn lại là 30.000.000 đồng – 2.800.000 đồng = 27.200.000 đồng.
  • - Đối với khoản vay ngày 29/5/2023, lãi từ ngày 29/5/2023 đến ngày 29/7/2023 là 500.000.000 đồng x 1,666%/tháng x 02 tháng = 16.666.666 đồng, lãi trả dư 40.000.000 đồng - 16.666.666 đồng = 23.333.334 đồng được trừ vào tiền vốn. Như vậy số tiền vốn còn lại là 500.000.000 đồng - 23.333.334 đồng = 476.666.666 đồng.
  • - Đối với khoản vay ngày 06/6/2023, lãi từ ngày 26/6/2023 đến ngày 06/7/2023 là 1.000.000.000 đồng x 1,666%/tháng x 01 tháng = 16.666.666 đồng, lãi trả dư 40.000.000 đồng - 16.666.666 đồng = 23.333.334 đồng được trừ vào tiền vốn. Như vậy số tiền vốn còn lại là 1.000.000.000 đồng - 23.333.334 đồng = 976.666.666 đồng.

Sau khi khấu trừ phần tiền lãi mà bà C đã trả dư so với quy định vào số tiền vốn vay thì tổng số tiền vốn mà bà C còn nợ ông T và bà X là 1.480.533.332 đồng (27.200.000 đồng + 476.666.666 đồng + 976.666.666 đồng).

Về lãi suất: Tại toà phía ông T và bà X yêu cầu bà C phải thanh toán khoản tiền lãi kể từ ngày bà C ngưng trả lãi với số tiền là 312.384.443 đồng, cụ thể:

  • - Đối với khoản vay ngày 20/3/2023, lãi từ ngày 21/7/2023 đến ngày 21/7/2024 là 27.200.000 đồng x 1,666%/tháng x 12 tháng = 5.440.000 đồng.
  • - Đối với khoản vay ngày 29/5/2023, lãi từ ngày 30/7/2023 đến ngày 30/7/2024 là 476.666.666 đồng x 1,666%/tháng x 12 tháng = 95.333.333 đồng.
  • Đối với khoản vay ngày 06/6/2023, lãi từ ngày 07/7/2023 đến ngày 07/8/2024 là 976.666.666 đồng x 1,666%/tháng x 13 tháng = 211.611.110 đồng.

Xét thấy bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi theo thoả thuận nên việc ông T và bà X yêu cầu tính lãi kể từ ngày bà C ngưng trả lãi theo mức lãi suất 20%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015. Do đó yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận.

Như vậy tổng số tiền vốn và lãi bà Lâm Thị C có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X là 1.792.917.775 đồng.

[3] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X được chấp nhận nên ông T và bà X không phải chịu án phí. Bà Lâm Thị C phải chịu án phí số tiền 65.787.533 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X.

[1]. Buộc bà Lâm Thị C có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X số tiền vốn và lãi vay là 1.792.917.775 đồng (Trong đó: tiền vốn vay là 1.480.533.332 đồng và tiền lãi là 312.384.443 đồng).

Kể từ ngày ông Phạm Tấn T và bà Nguyễn Thị Kim X có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Lâm Thị C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị C phải chịu số tiền 65.787.533 đồng.

[3]. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND - TPST;
  • - Thi hành án DS - TPST;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 155/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger