Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 155/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/8/2024

“V/v ly hôn, tranh chấp con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Lập Tiến

2. Bà Nguyễn Thị Tạc

- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Trần Tố Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 417/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc L – Sinh năm: 1985

Địa chỉ: Số E đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Trần Ngọc H– Sinh năm: 1992

Địa chỉ: K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03/5/2024, lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L trình bày:

Trần Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc H là vợ chồng hợp pháp, đăng ký kết hôn vào ngày 11/8/2018 tại Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Trong quá trình chung sống, bà Trần Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tình trạng này ngày càng nghiêm trọng không thể hòa hợp được. Bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Trần Thị Ngọc L làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc L xin ly hôn với ông Trần Ngọc H. Về con chung: Bà Trần Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc H có một con chung là cháu Trần Gia P, sinh ngày: 04/12/2018. Sau khi ly hôn bà Trần Thị Ngọc L đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà L đang làm nhân viên ngân hàng, thu nhập trung bình khoảng 10.000.000đồng/1 tháng, đủ khả năng nuôi con. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc L tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí.

Bị đơn ông Trần Ngọc H đã được Tòa án triệu tập, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông Trần Ngọc H không tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột không thể lấy lời khai, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau được.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc L được ly hôn với ông Trần Ngọc H. Về con chung: Giao con chung cháu Trần Gia P, sinh ngày 04/12/2018 cho bà Trần Thị Ngọc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Ngọc L không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L yêu cầu ly hôn ông Trần Ngọc H, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do lần thứ hai, nên Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường T, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ngày 11/8/2018 là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

L thừa nhận cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông H và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần Ngọc H.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhưng ông Trần Ngọc H không đến Tòa án để tự khai cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không có thiện chí hòa giải, hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Trần Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc H là không thể hòa giải, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ngọc L được ly hôn với ông Trần Ngọc H, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc H có một con chung là cháu Trần Gia P, sinh ngày: 04/12/2018. Bà Trần Thị Ngọc L có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Gia P. Hiện nay bà L đang là nhân viên ngân hàng, thu nhập trung bình khoảng 10.000.000 đồng/1 tháng, đủ điều kiện đảm bảo để trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận nguyện vọng của bà Trần Thị Ngọc L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Gia P, sinh ngày: 04/12/2018 và bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết là phù hợp.

[4] Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 220; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L.

Về quan hệ hôn nhân:Trần Thị Ngọc L được ly hôn với ông Trần Ngọc H.

Về con chung: Giao con chung cháu Trần Gia P, sinh ngày: 04/12/2018 cho bà Trần Thị Ngọc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung:Trần Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung:Trần Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí:Trần Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0010013 ngày 08/5/2024.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP.BMT;
  • - CCTHADS TP.BMT;
  • - UBND P. Tân Lợi, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Giấy CNKH số: 133/2018);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp con chung

  • Số bản án: 155/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN, CON CHUNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger