|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 155/2023/HS – ST Ngày: 22 - 12 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự Do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước
Ông Huỳnh Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2023/TLST – HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2023/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2001; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: Bạc Liêu. Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Khóm X, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Số 124, đường T, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Ph (đã chết) và bà Nguyễn Thanh T; Bị cáo có chồng (Không có đăng ký kết hôn) và 01 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/6/2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).
- Châu Phú T, sinh ngày 30 tháng 3 năm 1990; Tên gọi khác: Không (Bị cáo khai tại phiên tòa tên Cua Đinh); Nơi sinh: Sóc Trăng. Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Số 180, đường M, khóm X, phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Châu Ngọc H; Bị cáo có vợ và 02 con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 31/3/2006, bị Công an thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng lập hồ sơ đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng (Đã chấp hành xong); Ngày 28/5/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (đã được xóa án tích); Ngày 06/8/2014, bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (Đã nộp phạt xong); Ngày 10/8/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng ra Quyết định số 83/QĐ-TA Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc với thời hạn 20 tháng (Đang tạm đình chỉ thi hành Quyết định); Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/11/2023 cho đến nay (có mặt).
- Những người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng):
- + Anh Thạch Thanh R, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số 142, đường M, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- + Anh Lê Hùng V, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số 135/62, đường H, phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Châu Phú T (T) là bạn trai của Nguyễn Ngọc Y (Y); T thuê phòng số 103, khách sạn Bảo Di, số 497, đường T, khóm X, phường Y, thành phố S để ở và rủ Y đến ở cùng với T tại đây.
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25 tháng 6 năm 2023, Y đang ở cùng với T và bạn của T là Thạch Thanh R (R), tại phòng số 103, khách sạn Bảo Di, số 497, đường T, khóm X, phường Y, thành phố S, thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên Y điện thoại cho Trần Thanh L, cư trú tại số 510/9, đường Nguyễn Huệ, khóm 4, phường 9, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng mua 1.400.000 đồng ma túy về sử dụng, thì Long đồng ý. Sau khi mua được ma túy, Y đưa về phòng số 103, khách sạn Bảo Di và lấy một phần ma túy đổ vào nỏ để Y, T và R sử dụng. Số ma túy còn lại, Y cất vào trong bóp da của Y để sử dụng cho những lần tiếp theo. Sau khi sử dụng ma túy xong, Y đi ngủ, R thì đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26 tháng 6 năm 2023, Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Sóc Trăng phối hợp với Công an Phường 3, thành phố Sóc Trăng kiểm tra hành chính phòng số 103, khách sạn Bảo Di, số 497, đường Trần Hưng Đạo, khóm 8, phường 3, thành phố Sóc Trăng thì phát hiện và bắt quả tang Y, T cùng vật chứng. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện một gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu MT) để trong bóp da trên giường ngủ và một ống thủy tinh có một đầu hình tròn, bên trong có chất rắn màu vàng (ký hiệu MTN), được cắm trên chai nhựa có nắp màu vàng gắn ống hút màu đỏ thu được trong nhà vệ sinh phòng số 103, khách sạn Bảo Di.
Quá trình điều tra xác định, Châu Phú T thuê phòng số 103, khách sạn Bảo Di, số 497, đường Trần Hưng Đạo, khóm 8, phường 3, thành phố Sóc Trăng để ở từ ngày 16 tháng 6 năm 2023 đến ngày bị bắt quả tang. Sau khi thuê phòng, T cho bạn bè của T sử dụng ma túy tại địa điểm do T quản lý, sử dụng hai lần, cụ thể như sau: Lần thứ nhất, vào ngày 23 tháng 6 năm 2023, T cho Y, R, Lê Hùng V (V) và một người tên Y Tử (không rõ họ tên và địa chỉ) sử dụng ma túy, ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy do Y cung cấp; lần thứ hai, vào ngày 25 tháng 6 năm 2023, T cho Y và R sử dụng ma túy tại địa điểm do T quản lý sử dụng, ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy do Y cung cấp.
Nguyễn Ngọc Y ở cùng với Châu Phú T tại phòng số 103, khách sạn Bảo Di, số 497, đường Trần Hưng Đạo, khóm 8, phường 3, thành phố Sóc Trăng từ ngày 16 tháng 6 năm 2023 đến ngày bị bắt quả tang. Trong thời gian ở chung với T thì Y cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho T và người khác sử dụng hai lần, cụ thể như sau: Lần thứ nhất vào ngày 23 tháng 6 năm 2023, Y cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho T, V, R và một người tên Y Tử sử dụng; lần thứ hai, vào ngày 25 tháng 6 năm 2023, Y cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho T và R sử dụng. Nguồn ma túy để Y cho người khác sử dụng là của Y mua của Trần Thanh Long.
Tại bản kết luận giám định số 100/KLMT-KTHS ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, kết luận:
Gói 1 (ký hiệu MT): Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 2,0755 gam, loại Methamphetamine.
Gói 2 (ký hiệu MTN): Mẫu chất rắn màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0419 gam, loại Methamphetamine.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ hai gói niêm phong số 100/2023 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trường Sơn, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đỉnh, Điều tra viên Huỳnh Ngọc Tuyền; một bóp da màu cam; một chai nhựa có nắp màu vàng gắn ống hút màu đỏ; một bình gas màu đen có chữ Bluesky; một ống thủy tinh có một đầu hình tròn không đo kích thước; một điện thoại di động màu đen có chữ Iphone bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng; một điện thoại di động màu bạc có chữ Vivo, đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKS.TPST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Y về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Châu Phú T “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 151/CT-VKS.TPST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Y phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Châu Phú T phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị Nguyễn Ngọc Y. Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Châu Phú T. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Y từ 07 năm đến 08 năm tù về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Y phạm 02 tội là từ 08 năm đến 09 năm 06 tháng tù; Đề nghị xử phạt Châu Phú T từ 07 năm đến 08 năm tù về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Áp dụng khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy hai gói niêm phong số 100/2023 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng; 01 (một) bóp da màu cam; 01 (một) chai nhựa có nắp màu vàng gắn ống hút màu đỏ; 01 (một) bình gas màu đen có chữ Bluesky; (01) một ống thủy tinh có một đầu hình tròn không đo kích thước; Trả lại 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ Iphone bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng cho bị cáo Y và trả lại 01 (một) điện thoại di động màu bạc có chữ Vivo, đã qua sử dụng cho bị cáo T không có liên quan đến hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Ngọc Y, Châu Phú T đã khai nhận R bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và đã hối hận về hành vi phạm tội đã thực hiện, nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, R diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thành phố Sóc Trăng trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng anh Thạch Thanh R, anh Lê Hùng V. Xét thấy trong quá trình điều tra vụ án, những người làm chứng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây cản trở cho việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với người làm chứng anh Thạch Thanh R, anh Lê Hùng V theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ngọc Y, Châu Phú T thừa nhận R bộ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể từ ngày 16/6/2023 đến ngày 25/6/2023 bị cáo Nguyễn Ngọc Y đã cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, còn bị cáo Châu Phú T thuê phòng số 103, Khách Sạn Bảo Di, tọa lạc tại số 497, đường Trần Hưng Đạo, khóm 8, phường 3, thành phố Sóc Trăng (cung cấp địa điểm) để các bị cáo cùng với các đối tượng nghiệm ma túy như Thạch Thanh R, Lê Hùng V, Y Tử sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, riêng đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Y còn có hành vi tàng trữ 2,1174 gam ma túy, loại Methamphetamine khi bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố đối với các bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, do bản thân các bị cáo nghiện ma túy, nên mua ma túy đến khách sạn để cùng nhau sử dụng.
Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản kiểm tra hành chính ngày 26/6/2023, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, các biên bản đối chất, bản kết luận giám định số 100/KLMT-KTHS ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 26/6/2023, bị cáo Nguyễn Ngọc Y có hành vi tàng trữ 2,1174 gam Methamphetamine tại phòng số 103, Khách Sạn Bảo Di, tọa lạc tại số 497, đường Trần Hưng Đạo, khóm 8, phường 3, thành phố Sóc Trăng nhằm mục đích để sử dụng. Ngoài ra, từ ngày 16/6/2023 đến ngày 25/6/2023 bị cáo Nguyễn Ngọc Y còn có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, còn bị cáo Châu Phú T cung cấp địa điểm (Thuê phòng khách sạn) để cùng với các đối tượng nghiện ma túy như Thạch Thanh R, Lê Hùng V, Y Tử sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần (vào ngày 23 và 25 tháng 6 năm 2023). Vì vậy, hành vi tàng trữ trái phép 2,1174 gam, Methamphetamine, cũng như cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để nhiều người cùng sử dụng, sử dụng ma túy nhiều lần nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc Y có đủ yếu tố cấu thành Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy và thuộc tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Còn bị cáo Châu Phú T có hành vi cung cấp địa điểm để nhiều người cùng sử dụng ma túy, sử dụng ma túy nhiều lần như đã nêu trên đã đủ yếu tố cầu thành Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thuộc tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng số 151/CT-VKS.TPST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Y về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Châu Phú T “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không làm oan, sai cho các bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo Nguyễn Ngọc Y, cũng như hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Y, T là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo phải biết rằng ma túy là chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân các bị cáo và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác cho xã hội nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của cá nhân các bị cáo và bạn bè của các bị cáo. Hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, mà còn xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Do đó, cần phải có một mức hình phạt thật nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhất định để các bị cáo cải tạo, học tập, sửa chữa sai lầm của mình để trở thành người công dân sống phải chấp hành theo pháp luật của Nhà nước và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Trong vụ án này có 02 bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ, không phân công vai trò cụ thể, nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không phạm tội có tổ chức. Tuy bị cáo Y là người khởi xướng, rủ rê và cung cấp ma túy để cho nhiều người cùng sử dụng, còn bị cáo T là người cung cấp địa điểm để tổ chức sử dụng ma túy nên vai trò phạm tội của bị cáo Y được đánh giá cao hơn so với bị cáo T khi lượng hình. Tuy nhiên, trước khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để cá thể hóa hình phạt của hai bị cáo như sau: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Y có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, còn bị cáo T có nhân thân xấu, từng bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính. Nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo T có trình độ học vấn thấp nên phần nào cũng hạn chế trong nhận thức pháp luật thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà đáng lẽ ra các bị cáo phải chịu.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) gói niêm phong số 100/2023 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng; 01 (một) bóp da màu cam; 01 (một) chai nhựa có nắp màu vàng gắn ống hút màu đỏ; (01) một bình gas màu đen có chữ Bluesky; (01) một ống thủy tinh có một đầu hình tròn không đo kích thước; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Y 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ Iphone bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng và trả lại cho bị cáo Châu Phú T 01 (một) điện thoại di động màu bạc có chữ Vivo, đã qua sử dụng do không có liên quan đến các hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện.
Đối với Trần Thanh L là người bán ma túy cho bị cáo Y, hiện đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng khởi tố trong một vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, xử lý trong vụ án này.
Đối với Lê Hùng V, Thạch Thanh R Cơ quan điều tra xác định không có thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên không có căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với người tên Yến T, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác minh làm rõ được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự.
- Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng của vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 55; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Y;
- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Châu Phú T;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 333; Điều 338 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Y phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Châu Phú T phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Y 01 (một) năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và phạt 07 (bảy) năm tù về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Y phải chấp hành là 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/6/2023.
- Xử phạt bị cáo Châu Phú T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2023.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) gói niêm phong số 100/2023 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Phạm Thanh Trường Sơn, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đỉnh, Điều tra viên Huỳnh Ngọc Tuyền; 01 (một) bóp da màu cam; 01 (một) chai nhựa có nắp màu vàng gắn ống hút màu đỏ; (01) một bình gas màu đen có chữ Bluesky; (01) một ống thủy tinh có một đầu hình tròn không đo kích thước; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc Y 01 (một) điện thoại di động màu đen có chữ Iphone bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Châu Phú T 01 (một) điện thoại di động màu bạc có chữ Vivo, đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng và Phiếu nhập kho cùng ngày 28/11/2023).
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc Y, Châu Phú T là người bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Kim Sa Pha |
8
Bản án số 155/2023/HS – ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 155/2023/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Y và đồng bọn phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Khách sạn BD - Phường 3, thành phố Sóc Trăng
