Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-PT

Ngày 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Uyên Thy

Ông Ngô Đức Thụ

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Đăng Khương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/TLPT-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 18 tháng 11 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 5 đường H, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Nguyễn Huỳnh N (chết) và bà Nguyễn Thị N1; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 01/6/2023 – Có mặt.

- Người bào chữa:

Ông Nguyễn Cảnh T1 và ông Phạm Đức H là luật sư thuộc Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T – Có mặt.

- Bị hại:

Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 2005.

Trú tại: 2 đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Trần Vũ Minh Q bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 26/6/2022, anh Nguyễn Hoàng P (sinh ngày 03/02/2005) cùng nhóm bạn, gồm: Nguyễn Quốc H1 và H2, Q, B, B1 (chưa rõ lai lịch) ngồi uống nước tại quán cà phê, địa chỉ: A Lô F - Chung cư L, Phường A, Quận A, thì B và B1 đi đến bàn của bị cáo Trần Vũ Minh Q và nhóm bạn của bị cáo Q đang ngồi uống nước tại quán, rồi hỏi ai là người nẹt pô hôm qua, nhóm của bị cáo Q trả lời không biết thì B1, B yêu cầu nhóm của bị cáo Q nếu không kiếm ra người nẹt pô thì không cho về. Sau đó, B1 lên xe bỏ đi. Lúc này, bị cáo Q nhắn tin cho bị cáo Nguyễn Ngọc T việc bị cáo Q đang uống cà phê ở Chung cư L thì bị một nhóm thanh niên có đồ (hung khí) hăm doạ không cho về và nhờ bị cáo T đến chở về. Bị cáo T đồng ý và rủ M cùng nhóm bạn của M (đều không rõ nhân thân, lai lịch) đi hai xe gắn máy đến địa chỉ A Lô F - Chung cư L, Phường A, Quận A. Đến nơi, bị cáo T dừng xe máy Honda Vario 150 mang biển số 59E2-125.79 dưới lòng đường, mở cốp xe lấy con dao bằng kim loại, dài khoảng 30 cm cầm trên tay. Bị cáo Q thấy bị cáo T đến, trên tay cầm dao liền đi ra gặp; bị cáo T hỏi “ai không cho về”, bị cáo Q dẫn bị cáo T đến bàn anh Nguyễn Hoàng P đang ngồi, chỉ vào anh P và dùng tay phải đấm vào mắt trái của anh P; Liền lúc này, bị cáo T dùng dao chém anh P theo hướng từ trên xuống, anh P giơ tay lên đỡ trúng tay cầm dao của bị cáo T; bị cáo T tiếp tục chém xéo ngang vai anh P theo hướng từ trên xuống; anh P cúi người né thì trúng vào đầu bị gây thương tích. Sau đó, các bị cáo Q và T lên xe bỏ đi. Anh P được đưa đến bệnh viện T2 điều trị. Ngày 30/6/2022, ông Nguyễn Minh H3 (cha của anh P) đến Công an P1, Quận A trình báo. Công an P1, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 12/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Quyết định số 224/QĐ-CSHS trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật đối với Nguyễn Hoàng P. Kết luận giám định số 1033/Tgt.22 ngày 21/12/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố H, kết luận: “Vết thương vùng trán phải ngoài tóc gây đứt rách da, gãy nhiều mảnh kèm lún xương trán phải, đè nhu mô não, tụ máu ngoài màng cứng, dập xuất huyết não đã được điều trị phẫu thuật cắt bỏ gặm mảnh xương lún, lấy máu tụ ngoài màng cứng, hiện còn:

  • + Một sẹo vùng trán phải kích thước 4,5 x 0,1cm
  • + Một sẹo mổ vùng trán-thái dương phải kích thước 18,5 x (0,1-0,3)cm
  • + Hình ảnh khuyết sọ đáy phập phồng và tổn thương não vũng trán phải trên phim chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ
  • + Không yếu liệt

- Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên hiện tại là 47%

Kết luận khác: Thương tích do vật sắt, vật sắt nhọn hoặc vật tày có cạnh phù hợp với tác động gây ra”.

Tại Bản án số: 25/2024/HS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2023.

Ngoài ra Bản án còn tuyên hình phạt 06 năm tù cùng về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Trần Vũ Minh Q, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại.

Ngày 11 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Ngọc T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nhận định và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội mức hình phạt là phù hợp. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Luật sư Phạm Đức H và luật sư Nguyễn Cảnh T1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T cùng trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà bản án sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo T. Tuy nhiên, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là có phần nghiêm khắc, chưa xem xét đến nguyên nhân, bối cảnh, điều kiện phạm tội, bởi bị cáo Q là người khởi xướng, nhắn tin cho bị cáo với nội dung, đang có người “gom đồ” tức chuẩn bị hung khí không cho Q về và nhờ T đến đón Q nên bị cáo mới chuẩn bị hung khí với mục đích đến bảo vệ và đón bạn về. Đồng thời, tại quán cà phê bị cáo Q là người đánh bị hại trước. Mục đích bị cáo chém bị hại là nhằm vào phần tay để cảnh cáo nhưng do bị hại cúi người, né tránh mới gây thương tích tại phần đầu, bị cáo phạm tội mang tính bộc phát, quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, tại giai đoạn sơ thẩm bị hại đã có đơn bãi nại và tại phiên tòa phúc thẩm đã đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về nhân thân, bị cáo phạm tội lần đầu, có trình độ học vấn thấp, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cha mất sớm, bị cáo phải đi làm nuôi mẹ, bà nội và em gái. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chấp nhận kháng cáo của bị cáo và quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Nguyên nhân xảy ra vụ án xuất phát từ mâu thuẫn giữa Q với nhóm bị hại, nhưng Q không yêu cầu bị cáo mang hung khí đến gây thương tích cho bị hại, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ, nên cần nghiêm trị theo quy định tại Điều 3 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng đầy đủ nên không có cơ sở giảm nhẹ hơn nữa hình phạt cho bị cáo.

Kết thúc phần tranh luận, các bên đều bảo lưu quan điểm như đã trình bày.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập xã hội, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 10, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Căn cứ lời khai của bị cáo và bị hại tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/6/2022, tại quán cà phê địa chỉ A Lô F, Chung cư L, Phường A, Quận A, Nguyễn Ngọc T cùng Trần Vũ Minh Q đã có hành vi dùng vũ lực gây thương tích cho bị hại Nguyễn Hoàng P, với tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên cho bị hại P là 47%. Phạm tội thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ”. Do đó, Bản án sơ thẩm số: 25/2024/HS-ST ngày 05-3-2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, đã áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[4.1] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc T cùng đồng phạm là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến thân thể, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội nên cần có mức án tương xứng để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất đồng phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo T.

[4.2] Về tính chất đồng phạm: Xét đây là vụ án đồng phạm giản đơn do bị cáo Nguyễn Ngọc T và Trần Vũ Minh Q cùng thực hiện. Trong đó, Q là người khởi xướng, nhắn tin rủ rê T đến quán cà phê với nội dung “qua chở nó (Q) về, nó đang ở quán café ở chung cư L, Quận A, có đám không cho nó về, đang gom “đồ” đòi chém nó”, từ đó T mới chuẩn bị hung khí để đến quán cà phê giải quyết mâu thuẫn cho Q (theo biên bản đối chất ngày 10/10/2023 giữa các bị cáo T, Q, bút lục 150, 151). Đồng thời, tại thời điểm và địa diểm thực hiện hành vi phạm tội, mặc dù Q thấy T mang theo hung khí nhưng Q vẫn chỉ điểm bị hại Nguyễn Hoàng P và dùng tay đánh vào mặt của bị hại P để khởi phát hành vi gây thương tích. Trong khi đó, bị cáo Nguyễn Ngọc T giữ vai trò là người thực hành chính, gây nên toàn bộ thương tích cho bị hại (theo biên bản đối chất giữa các bị cáo, giữa bị cáo T với hại, bút lục 150-153; biên bản thực nghiệm hiện trường, bản ảnh thực nghiệm hiện trường, bút lục 101-115). Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét các bị cáo T, Q có vai trò ngang nhau khi cùng thực hiện hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T, cần cân nhắc, xem xét thêm các quy định tại Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường số tiền 25.000.000 đồng, được phía bị hại bãi nại và tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Nguyễn Hoàng P cũng trình bày hiện sức khỏe đã hồi phục bình thường, sau khi xảy ra sự việc, gia đình bị cáo T thường xuyên đến thăm hỏi sức khỏe bị hại và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4.5] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên được xem xét là người có nhân thân tốt khi quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4.6] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm, vai trò đồng phạm, các tình tiết giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Mức hình phạt 06 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo T là có phần nặng nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.7] Đối với đề nghị của luật sư bào chữa về việc áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nên cần có mức hình phạt tù trong khung hình phạt mới đảm bảo tính nghiêm trị trong nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự như vị đại diện Viện kiểm sát đã trình bày tại phiên tòa.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc T và sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2023.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - VKSND quận 10; (2)
  • - P.V06 - CATP; (1)
  • - Trại tạm giam Chí Hòa; (2)
  • - Bị cáo; (1)
  • - THADS quận 10; (1)
  • - TAND quận 10; (2)
  • - Công an quận 10; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích (criminal case)

  • Số bản án: 155/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T, bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 của BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger