Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2025/DS-ST

Ngày: 23/6/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Mỹ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông (bà): Nguyễn Thị Ngọc Thu
  2. Ông (bà): Lý Thị Kim Hân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 841/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 427/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 182/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1

    Trụ sở chính: 130 P, phường C, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị

    Người đại diện ủy quyền thường xuyên: Bà Trương Hồng H

    Địa chỉ Chi nhánh C: 167 T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

    Nay là Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S

    Trụ sở chính: số G phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hữu Đ- Chủ tịch Hội đồng thành viên

    Người đại diện ủy quyền thường xuyên: ông Trần Xuân H1-Tổng giám đốc

    Người được ủy quyền: Ông Đào Đức T1, chức vụ: Nhân viên khách hàng cá nhân có mặt

  • Theo Quyết định số 03/2025/QĐ-AHA ngày 18/2/2025
  • Bị đơn: Bà Lương Thanh T2, sinh năm: 1967. Vắng mặt

    Địa chỉ: C T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Bá L, sinh năm: 1972. Vắng mặt

    Địa chỉ: C T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/8/2023 và quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngay 10/04/2015, Bà Lương Thanh T2 có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh C - C (nay là Ngân hàng TNHH MTV C), chi tiết như sau:

Số tiền vay: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) theo hợp đồng tín dụng vay trả góp (có Đối tác liên kết) số: 0125877901T15006 được duyệt ngày 10/04/2015, ký nhận nợ cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ, chi tiết như sau: Lãi suất trong hạn: 12%/ năm. Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 10/04/2015 đến hạn ngày 10/04/2016). Mục đích vay: Tiêu dùng.

Biện pháp bảo đảm: Tín chấp (không có tài sản bảo đảm). Ông Hồ Bá L (là chồng của Bà Lương Thanh T2) có cam kết với Ngân hàng TMCP Đ1 về việc chịu trách nhiệm trả nợ thay cho bà Lương Thanh T2 trong trường hợp bà Lương Thanh T2 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Trong quá trình giao dịch bà Lương Thanh T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù Ngân hàng đã áp dụng các biện pháp nhắc nhở, thông báo nhưng bà Lương Thanh T2 đã không thanh toán đúng như thỏa thuận của hợp đồng. Tính đến hết ngày 07/08/2023, bà Lương Thanh T2 còn nợ các khoản sau: Vốn gốc: 16.907.693 đồng. Lãi trong hạn: 1.692.307 đồng. Lãi quá hạn tạm tính: 22.284.339 đồng (Tính đến hết ngày 07/08/2023). Tổng cộng: 40.884.339 đồng (Bốn mươi triệu tám trăm tám mươi tư nghìn ba trăm ba mươi chín đồng).

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Lương Thanh T2 và ông Hồ Bá L trả ngay cho Ngân hàng TMCP Đ1 tổng số nợ còn thiếu (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, vốn) tính đến ngày 07/08/2023 là 40.884.339 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/08/2023 theo Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có Đối tác liên kết) số 0125877901T15006 ngày 10/4/2015 cho đến khi thanh toán hết nợ vay.

Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Lương Thanh T2 trả ngay cho Ngân hàng TMCP Đ1 (nay là Ngân hàng TNHH MTV S) tổng số nợ còn thiếu (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn, vốn) tính đến ngày 23/6/2025 là 47.728.490 đồng, trong đó vốn gốc: 16.907.693 đồng, lãi trong hạn: 1.692.307 đồng, lãi quá hạn: 29.128.490 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 24/6/2025 cho đến khi bà Lương Thanh T2 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

* Bị đơn bà Lương Thanh T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Bá L: Đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn, người liên quan vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện, giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (nay là Ngân hàng TNHH MTV S) đã ký với bị đơn bà Lương Thanh T2 hợp đồng tín dụng vay trả góp (có Đối tác liên kết) số: 0125877901T15006 được duyệt ngày 10/04/2015, do bà Lương Thanh T2 đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án đòi lại số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

    Căn cứ vào giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ thì bà Lương Thanh T2 cung cấp cho Ngân hàng địa chỉ thường trú của bà tại số C T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo kết quả xác minh Công an phường C thì bà Lương Thanh T2 bán nhà đi khỏi địa phương, đi đâu và làm gì địa phương không nắm. Như vậy, bị đơn Lương Thanh T2 không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục địch che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện nên căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại quận N, thành phố Cần Thơ. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  2. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Lương Thanh T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Bá L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người liên quan.
  3. Về nội dung tranh chấp và yêu cầu của đương sự:

    Xét yêu cầu của nguyên đơn về khoản nợ vay, thấy rằng: Theo hợp đồng tín dụng vay trả góp (có Đối tác liên kết) số: 0125877901T15006 ký ngày 10/04/2015 với số tiền vay: 20.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng), mục đích vay: Tiêu dùng.

    Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy hợp đồng là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên đều phải có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các thỏa thuận tại hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình vay, bà Lương Thanh T2 chỉ trả được một phần nợ và đã không tiếp tục thực hiện hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả vốn gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm thời hạn thanh toán. Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ khoản vốn gốc và lãi suất phát sinh là có cơ sở.

    Vì vậy, căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi tính đến 23/6/2025 là 47.728.490 đồng, trong đó vốn gốc: 16.907.693 đồng, lãi trong hạn: 1.692.307 đồng, lãi quá hạn: 29.128.490 đồng và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi cho đến khi trả tất nợ theo lãi suất được ghi trên Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ cho nguyên đơn.

    Đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc ông Hồ Bá L (là chồng của bà Lương Thanh T2) có cam kết với Ngân hàng TMCP Đ1 về việc chịu trách nhiệm trả nợ thay cho bà Lương Thanh T2 trong trường hợp bà Lương Thanh T2 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên tại phiên tòa Ngân hàng rút lại yêu cầu buộc ông Hồ Bá L phải trả nợ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (nay là Ngân hàng TNHH MTV S) về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn bà Lương Thanh T2.

    Buộc bị đơn bà Lương Thanh T2 phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 23/6/2025 là 47.728.490 đồng, trong đó vốn gốc: 16.907.693 đồng, lãi trong hạn: 1.692.307 đồng, lãi quá hạn: 29.128.490 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm

    Bị đơn bà Lương Thanh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.386.000 đồng. Nguyên đơn đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (nay là Ngân hàng TNHH MTV S) được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.022.000 đồng theo biên lai thu số 0000878 ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nói trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Mỹ Xuân

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.CT;
  • - VKSND TP.CT;
  • - VKSND.Q.NK;
  • - Chi cục THADS Q.NK;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 155/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Đ và bà T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger