Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 155/2025/HS-ST

Ngày: 29/5/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đăng Thuý – Cán bộ hưu.

2. Ông Trần Khánh Uẩn – Cán bộ hưu.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968; nơi thường trú: Khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1929 và bà Ngô Thị X, sinh năm 1934; gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ tư; vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967 và có 02 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1990;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Nhân thân: Tại quyết định số: 202/QĐ-UB ngày 03/5/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đưa Đ vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Đông chấp hành xong quyết định ngày 17/02/1999.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trại tạm giam khu vực thành phố T; có mặt.

  2. Nguyễn Hữu V, sinh năm 1999; nơi thường trú: Khu phố M, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 và bà Đàm Thị A, sinh năm 1977; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B trại tạm giam khu vực thành phố T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09h00' ngày 10/01/2025, tổ công tác Công an phường P, thành phố T tiến hành kiểm tra tại lán ao hồ của anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1986, tại khu phố T, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh do Nguyễn Văn Đ đang quản lý đã phát hiện tại lán có Đông và Nguyễn Hữu V có biểu hiện vừa sử dụng trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trong lán:

  • 02 miếng giấy bạc, bên trong có bám dính chất màu đen được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1 theo đúng quy định.
  • 01 túi nilong màu trắng bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2 theo đúng quy định.
  • 01 túi nilong màu trắng bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3 theo đúng quy định.
  • 01 chai thuỷ tinh, nắp bằng nhựa, cuốn băng dính màu đen, trên nắp có gắn 02 đầu ống hút, trong đó 01 đầu ống hút màu xanh, hồng và 01 đầu ống hút màu trắng, hồng.
  • 01 bật lửa màu đỏ.

Đ và V đều là đối tượng nghiện ma túy “đá, ngựa”. Chiều ngày 09/01/2025, V đến lán của Đông chơi, Đ có đưa cho V 400.000 đồng, mục đích để mua ma túy về Đông và V cùng sử dụng. V cầm 400.000 đồng đi bộ đến phường Đ, thành phố T mua ma túy của 01 người phụ nữ không quen biết được 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng là “ma túy đá” và 01 túi nilon chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng là “ma túy ngựa” và V mang về lán. 21h cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, V chuẩn bị chai thủy tinh, nắp bằng nhựa, trên nắp gắn 02 đầu ống hút bằng băng dính màu đen, 01 bật lửa và đổ phần “ma túy đá, ngựa” mua được ra 01 miếng giấy bạc hơ, hút qua chai thủy tinh V sử dụng, sau đó Đ cũng sử dụng ma túy do V chuẩn bị. Đến 21h20' cùng ngày Đ và V đi ngủ. Đến 03h ngày 10/01/2025, V dậy và sử dụng nốt phần ma túy còn lại. 09h00' ngày 10/01/2025, đang ngủ tại lán thì Đ và V bị Công an phường P kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 330/KL-KTHS ngày 12/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “+ Chất màu đen bám dính trên 02 (hai) miếng giấy bạc trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại ma túy: Methamphetamine; Không đủ để xác định khối lượng.
  • + Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilong màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, loại ma túy: Methamphetamine; Không đủ để xác định được khối lượng.
  • + Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilong màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, loại ma túy: Methamphetamine; Không đủ để xác định được khối lượng”

Tại bản Cáo trạng số: 83/CT-VKS-TS ngày 24/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Đ từ 36 đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hữu V từ 36 đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, 01 bật lửa, 01 chai thủy tinh gắn ống hút.

Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V không tham gia tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Lời nói sau cùng, các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh, hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản kiểm tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng thời gian từ 21 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, tại lán ao hồ của anh Phạm Văn Đ1 do Nguyễn Văn Đ quản lý, Đ và Nguyễn Hữu V đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đ cung cấp địa điểm, tiền cho V đi mua ma tuý về cùng sử dụng. V trực tiếp đi mua ma tuý, chuẩn bị giấy bạc, chai thuỷ tinh gắn ống hút, bật lửa, đốt ma tuý cho V và Đ cùng sử dụng. Đến hồi 09 giờ 00 phút ngày 10/01/2025 thì Tổ công tác Công an phường P, thành phố T tiến hành kiểm tra, phát hiện. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX nhận thấy:

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, các bị cáo có vai trò ngang nhau, mỗi bị cáo chịu trách nhiệm một công việc cụ thể để nhằm mục đích cùng sử dụng ma túy cho bản thân.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân xấu, đã từng bị Ủy ban nhân dân tỉnh B đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc năm 1999 nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo Nguyễn Hữu V có nhân nhân thân tốt. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, đều đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Văn Đ có thời gian phục vụ trong quân ngũ nên Đ còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có thể giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, sống có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có công việc ổn định, mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[4] Vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định, 01 bật lửa, 01 chai thủy tinh gắn ống hút không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Liên quan trong vụ án:

Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho V ngày 09/01/2025 tại phường Đ, thành phố T. V khai không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể của người này. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau là đúng quy định.

Đối với anh Phạm Văn Đ1 là chủ lán ao hồ. Anh Đ1 có giao cho Đ quản lý lán từ năm 2017. Anh Đ1 không biết việc Đ tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại lán nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý anh Đ1 là phù hợp.

[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

-Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tứ tụng hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Hữu V 34 (ba mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

Quyết định tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày 29/5/2025 để đảm bảo việc thi hành án.

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong (Mặt trước phong bì có chữ: “Cơ quan CSĐT-CATP Từ Sơn. Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Văn Đ...”); 01 bật lửa màu đỏ; 01 chai thủy tinh, nắp bằng nhựa, cuốn băng dính màu đen, trên nắp có gắn 02 đầu ống hút, trong đó 01 đầu ống hút màu xanh hồng và 01 đầu ống hút màu trắng hồng.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Hữu V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Các bị cáo; đương sự; lưu hs, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Sỹ Khả

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Đăng Thúy

Trần Khánh Uẩn

Nguyễn Sỹ Khả

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 155/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ và ĐP Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger