TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 155/2025/DS-PT Ngày 09-4 - 2025 V/v tranh chấp hụi |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Nguyễn A Đam
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hụi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 283/2024/DS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 77/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1971.
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hồ Văn K, sinh năm 1980; Địa chỉ cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Đinh Văn C, sinh năm 1959.
- Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Sơn T, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú: Số B, đường P, khóm C, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1967. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Đinh Văn C là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Võ Thị N trình bày:
Bà N có tham gia hụi do ông Đinh Văn C và bà Nguyễn Thị C1 làm chủ cụ thể như sau: Hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 15/3/2021 âm lịch, tháng khui 01 lần vào ngày 15 hàng tháng, gồm có 33 chân, bà N tham gia 01 chân (đứng tên hụi viên là 7 V, tại số thứ tự 31) V là tên chồng bà. Bà hốt ở kỳ thứ 33 là 3.000.000 đồng x 01 chân x 32 chân = 96.000.000 đồng, tiền cò 1.800.000 đồng. Trong dây hụi này bà N mua 02 chân là 33 kỳ x 3.000.000 đồng x 02 chân = 198.000.000 đồng. Sau khi mãn hụi cho đến nay thì ông C và C1 không giao tiền hụi. Tổng cộng hụi tham gia và hụi mua ông C và bà C1 còn nợ 294.000.000 đồng trừ cò 5.400.000 đồng (03 chân) = 288.600.000 đồng. Khi đó, bà C1 có nói là không có khả năng giao số tiền nợ nên bà C1 đến gặp bà và chốt nợ bằng biên nhận do bà C1 tự ghi nội dung và ký tên xác nhận nhưng biên nhận không ghi ngày tháng năm.
Khi đó, bà C1 nói không có khả năng thanh toán nợ nên kêu bà N mua hụi để đối trừ nợ. Cụ thể ngày 10/02/2023 âm lịch ông C và bà C1 mở hụi 3.000.000 đồng, gồm 37 chân bà N mua 02 chân với số tiền 143.600.000 đồng và ngày 30/5/2024 âm lịch ông C và bà C1 mở hụi 3.000.000 đồng, gồm 35 chân bà mua 02 chân với số tiền 122.800.000 đồng, tổng hai chân hụi mua 266.400.000 đồng. Bà C1 có chốt lại bằng biên nhận nội dung trong biên nhận do bà C1 tự ghi và ký tên xác nhận. Đối trừ số tiền còn nợ 288.600.000 đồng - 266.400.000 đồng = 22.200.000 đồng. Bà C1 đã thanh toán cho bà B số tiền 22.200.000 đồng. Trong đơn khởi kiện do chưa tính toán cụ thể nên bà N khởi kiện đối với số tiền 288.600.000 đồng nay bà N chỉ yêu cầu ông C thanh toán số tiền 266.400.000 đồng. Hiện nay, bà C1 đã chết nên bà N chỉ yêu cầu ông C thanh toán nợ không yêu cầu trách nhiệm đối với các con của ông C.
- Bị đơn ông Đinh Văn C trình bày:
Ông C xác định vợ chồng ông có làm chủ các hụi gồm dây hụi 3.000.000 đồng ngày 15/3/2021 âm lịch; hụi 3.000.000 đồng ngày 10/02/2023 âm lịch, gồm 37 chân; hụi 3.000.000 đồng ngày 30/5/2024 âm lịch, gồm 35 chân. Ông xác định quá trình giao dịch hụi ông và bà C1 cùng giao dịch với hụi viên.
Đối với hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 15/3/2021 ông C xác định bà N tham gia 01 chân tại số thứ tự 31 tên “7 V” nhưng chân hụi đã mãn hơn 01 năm nay thì đương nhiên bà C1 đã giao đủ tiền hốt hụi cho hụi viên, bà N cho rằng bà C1 chưa thanh toán hụi cho bà N là không có cơ sở. Nếu sau khi mãn hụi mà bà C1 không giao tiền hụi vậy sao khi đó bà N không đến gặp ông để yêu cầu thanh toán nợ.
Đối với hụi 3.000.000 đồng mở ngày 10/02/2023 gồm 37 chân và hụi 3.000.000 đồng mở ngày 30/5/2023, ông xác định bà N không mua hụi như bà N trình bày. Bà C1 đã chết vào ngày 12/3/2024 dương lịch, sau khi bà C1 chết thì ông có mời các hụi viên đến để tính toán hụi nhưng bà N không đến nay khởi kiện ông N không chấp nhận.
Nội dung của các biên nhận chốt hụi và chữ viết, chữ ký “vợ chiêu” và chữ viết “chị 3 chiêu” ông xác định chữ ký, chữ viết trong biên nhận là của bà C1 nhưng các biên nhận không thể hiện bà C1 chưa thanh toán nợ cho bà N. Nay bà N xác định bà C1 chưa thanh toán nợ ông không đồng ý. Ông và bà C1 có tài sản chung là phần đất nuôi trồng thuỷ sản, diện tích khoảng 14.000m², toạ lạc tại ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau hiện do ông đang quản lý, sử dụng. Chân hụi bà N tham gia bà C1 đã giao hụi xong. Đối với các chân hụi mua bà N trình bày là không có nên ông không đồng ý thanh toán theo yêu cầu của bà N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V trình bày: Vợ chồng ông có tham gia hụi do ông C và bà C1 làm chủ loại hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 15/3/2021 âm lịch, 33 chân, tham gia 01 chân (đứng tên hụi viên là 7 V, tại số thứ tự 31) nhưng mọi vấn đề về hụi đều do bà N thực hiện. Nay thống nhất với ý kiến của bà N yêu cầu ông C trả số tiền hụi 266.400.000 đồng. Đồng thời vì lý do sức khoẻ nên yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 283/2024/DS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N.
Buộc ông Đinh Văn C thanh toán cho bà Võ Thị N số tiền hụi 266.400.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/01/2025, ông Đinh Văn C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Ông C chỉ còn thiếu bà N số tiền 220.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền này.
Tại cấp phúc thẩm, ông Đinh Văn C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Đinh Văn C, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Đinh Văn C thừa nhận, bà Võ Thị N có tham gia chân hụi ngày 15 tháng 3 năm 2021(al) do bà Nguyễn Thị C1 (vợ ông C) làm chủ hụi. Tại giấy tính hụi của chân hụi thể hiện: Hụi mua hốt chót 2 chân và hụi vô hốt chốt 01 chân với tổng số tiền 294.000.000 đồng trừ 5.400.000 đồng (tiền cò), bà N hốt hụi được số tiền 286.600,000 đồng có đối trừ số tiền 266.400.000 đồng, còn lại 22.200.000 đồng. Số tiền 22.200.000 đồng, bà N thừa nhận bà C1 đã thanh toán xong; còn số tiền 266.400.00 đồng thì bị đơn có kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét kháng cáo đối với số tiền 266.400.000 đồng.
[2] Bà N cho rằng, do bà C1 không có khả năng thanh toán tiền hụi cho bà N nên yêu cầu bà N mua 2 chân hụi ngày 10 tháng 02 năm 2023 và 2 chân hụi ngày 30 tháng 5 năm 2023 với tổng số tiền 266.400.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà N có cung cấp bản viết tay có ghi người mua hụi là Võ Thị N, người bán hụi là vợ Chiêu với nội dung: Hụi 3.000.000 đồng khui ngày 30/5/2023 (al) gồm có 35 chân, bán hụi 2 chân số tiền 122.800.000 đồng. Hụi 3.000.000 đồng khui ngày 10/02/2023 gồm 37 chân, bán hụi 2 chân số tiền 143.600.000 đồng. Như vậy, 4 chân hụi trên được bán tổng số tiền 266.400.000 đồng. Người đại diện theo uỷ quyền của ông C và ông C thừa nhận: Chữ viết trong giấy hụi do bà C1 (vợ ông C) viết nhưng chữ ký không phải của bà C1. Tại Kết luận giám định số 601/KL-KTHS ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: Chữ viết, chữ ký trên giấy hụi là do cùng một người viết ra. Như vậy, bằng giấy hụi trên, bà C1 đã ghi nhận việc mua bán hụi của bà C1 và bà N là có thực tê nên bà N trình bày mua hụi số tiền 266.400.000 đồng là có cơ sở. Do đó, án sơ thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 266.400.000 đồng là có căn cứ.
[3] Tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh được vì sao bị đơn chỉ còn thiếu nguyên đơn số tiền 220.000.000 đồng nên kháng cáo của ông C không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 283/2024/DS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có điều chỉnh cách tuyên án.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Văn C là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn C.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 283/2024/DS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị N.
- Buộc ông Đinh Văn C thanh toán cho bà Võ Thị N số tiền 266.400.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành xong tất cả các khoản tiền, người phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thị hành án.
- Về chi phí tố tụng: Ông Đinh Văn C phải chịu toàn bộ số tiền 5.870.000 đồng; ông Đinh Văn C đã thanh toán xong.
- Về án phí :
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đinh Văn C được miễn nộp. Bà Võ Thị N không phải chịu, ngày 22 tháng 7 năm 2024 bà N có nộp tạm ứng án phí với số tiền 7.215.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003739 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Văn C được miễn nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a, 7bvà 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 155/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị N yêu cầu ông Đinh Văn C thanh toán cho bà Võ Thị N số tiền hụi 266.400.000 đồng.
