Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày 28-10-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.

Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Thu Hà;

Bà Nguyễn Thị Phụng;

Ông Huỳnh Tuấn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 166/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Phúc X sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Phúc X1 và bà Huỳnh Thị Cẩm H (chết tháng 9/2024); bị cáo có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Phúc X: Luật sư Lê Đình A –Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Hữu C sinh năm 1992; địa chỉ: khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1997; địa chỉ: số A đường L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

2. Bà Vương Thu M, sinh năm 1997; địa chỉ: số F đường N, khu dân cư K, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

3. Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1989; địa chỉ: C, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Trần Hữu C và Huỳnh Phúc X là hàng xóm quen biết với nhau từ nhiều năm nay. Ông C và bà Nguyễn Thị N (mẹ ruột C) kinh doanh dịch vụ cho thuê xe tự lái tại khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Do cần tiền để trả nợ và tiêu xài nên vào ngày 29/6/2021 và ngày 01/7/2021, X đã đưa ra thông tin gian dối về việc X cần thuê xe ô tô để đưa gia đình đi du lịch để ông C tin tưởng và cho X thuê 02 xe ô tô hiệu Mazda 3 biển số 61A- 874.35 và 61A-874.96 (cả 2 xe ô tô do bà Nguyễn Thị N đứng tên chủ sở hữu). Sau khi thuê được 02 xe ô tô trên, X mang đến gặp Nguyễn Hữu T bán lấy tiền, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Ngày 29/6/2021, X đến gặp ông C hỏi thuê xe ô tô để đi du lịch trong thời hạn 01 tuần, ông C đồng ý và lập hợp đồng cho thuê xe ô tô hiệu Mazda 3, biển số 61A- 874.35 với giá 900.000 đồng/ngày. Sau đó, ông C giao xe và giấy chứng nhận đăng ký xe bản photo (do bản chính đang thế chấp tại Ngân hàng T3 nhưng năm 2023 đã xóa thế chấp) cho X giữ. Sau khi nhận được xe, X điều khiển đến gặp ông Nguyễn Hữu T tại xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương thỏa thuận bán xe ô tô trên cho ông T với giá 550.000.000 đồng. Xinh nói dối với ông T rằng bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột của X, X nhờ bà N đứng tên vay Ngân hàng để mua xe nên chỉ được giao lại bản sao y Giấy chứng nhận đăng ký xe nên ông T tin tưởng và đồng ý mua. Cả hai thỏa thuận ông T đặt cọc 250.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ được thanh toán sau khi công chứng Hợp đồng mua bán. Lúc này, ông T nhờ bà Vương Thu M (bạn gái T) đứng ra ký giấy mua bán với X. Xinh viết giấy mua bán xe giữa người mua là bà M, người bán là X với giá 250.000.000 đồng, sau đó ông T giao 250.000.000 đồng cho X và X giao xe ô tô 61A- 874.35 cho T sử dụng.

Lần thứ hai:

Ngày 01/7/2021, X tiếp tục đến gặp ông C hỏi thuê một chiếc xe ô tô để đi du lịch cùng gia đình. Ông C đồng ý cho X thuê thêm 01 xe ô tô hiệu Mazda 3, biển số 61A-874.96, thời gian thuê 01 tuần, giá thuê xe là 900.000 đồng/ngày, việc cho thuê xe được lập thành Hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái số 010 đề ngày 01/7/2021. Sau đó, ông C giao xe ô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe bản photo (do bản chính đang thế chấp tại Ngân hàng T3 nhưng năm 2023 đã xóa thế chấp) cho X giữ. Sau khi có được xe ô tô 61A-874.96, X tiếp tục liên hệ với ông T để bán với giá 550.000.000 đồng. Ông T đặt cọc cho X trước 250.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ được thanh toán sau khi công chứng Hợp đồng mua bán. Sau khi nhận đủ 250.000.000 đồng, X giao xe ô tô 61A- 874.96 cho ông T sử dụng (việc mua bán không lập hợp đồng).

Khi hết thời hạn thuê đối với 02 xe ô tô trên, ông C nhiều lần liên hệ và tìm đến nhà nhưng không liên lạc được với X nên đến tháng 10/2021, ông C tìm theo định vị của 02 xe ô tô thì được biết xe đang ở trên địa bàn huyện P, tỉnh Bình Dương nên tìm đến địa chỉ theo định vị thì gặp ông T. Tại đây, ông T kể lại việc ông T đã đặt cọc 500.000.000 đồng cho X để mua 02 xe ô tô 61A-874.35 và 61A-874.96. Do muốn nhận lại xe của mình nên ông C thỏa thuận trả cho ông T 500.000.000 đồng để chuộc lại 02 xe ô tô trên, ông T đồng ý.

Sau đó ông C liên hệ được với X nên yêu cầu X trả lại 824.000.000 đồng, trong đó gồm: 500.000.000 đồng ông C chuộc xe và 324.000.000 đồng là tiền thuê xe trong thời hạn 06 tháng. Do X không có tiền để trả nên X sử dụng thông tin của thửa đất số 560, tờ bản đồ số 22, diện tích 551,2m² trên địa bàn xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương trên máy photo và sử dụng máy tính sửa thông tin của chủ sử dụng đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành tên Huỳnh Phúc X, rồi Xinh chụp gửi hình ảnh qua cho ông C. Xinh nói đây là tài sản của X và sẽ chuyển nhượng lại cho ông C để cấn trừ khoản nợ trên, ông C đồng ý. Ngày 10/10/2021, X và ông C ký hợp đồng đặt cọc có nội dung ông C đặt cọc cho X để nhận chuyển nhượng thửa đất số 560 tờ bản đồ số 22 tại xã T với giá 1.200.000.000 đồng, ông C đặt cọc trước cho Xinh 900.000.000 đồng (nhưng chưa giao tiền), số tiền còn lại thanh toán khi ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, X không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, cũng không thực hiện việc chuyển nhượng nên ông C nhờ người kiểm tra thông tin thửa đất số 560, phát hiện ông Lưu Thanh T2, sinh năm 1997, nơi cư trú: tổ A, ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSÐ) số DA736331 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cấp ngày 14/6/2021 nên ông C gửi đơn tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.

Tại Kết luận giám định số 210/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: Hai dấu vân tay tên “Huỳnh Phúc X” có tại mục “Bên A” trên Giấy bán xe ngày 29/6/2021; mục “Bên B” trên hai Hợp đồng thuê xe ô tô tự lái ngày 29/6/2021 và 01/7/2021; mục “Bên B” trên Giấy đặt cọc ngày 10/10/2021 so với dấu vân tay thu được của Huỳnh Phúc X là do cùng một người lăn tay ra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 307/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Dương xác định trị giá xe ô tô biển số 61A-874.35 là 575.000.000 đồng và 61A-874.96 là 575.000.000 đồng. Tổng trị giá 02 xe ô tô tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.150.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: không

Trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

Bị hại Trần Hữu C yêu cầu bị can Huỳnh Phúc X bồi thuờng 500.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 198/CT-VKSBD.P2 ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Phúc X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương trình bày lời luận tội trong đó vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng truy tố bị cáo Huỳnh Phúc X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xuất phát từ việc bị cáo Huỳnh Phúc X nợ nhiều người, không có khả năng trả, cần tiền để giải quyết công việc cá nhân của mình và để muốn chiếm đoạt tiền của người khác nên bị cáo đã cung cấp thông tin gian dối là cần thuê xe đi du lịch cùng gia đình nên ông C tin tưởng và cho X thuê 02 xe ô tô, thông qua hợp đồng thuê xe, được sự quản lý của mình thì bị cáo đã đi bán cho người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân hết, theo kết quả định giá thì trị giá của 02 xe ô tô hiệu Mazda 3 biển số 61A-874.35 và 61A-874.96, tổng trị giá 02 xe ô tô là 1.150.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hai khách thể mà pháp luật hình sự bảo vệ đó là quyền sở hữu tài sản, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Tại thời điểm phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để bị cáo sớm được quay trở lại xã hội làm người có ích, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Huỳnh Phúc X mức án từ 12 năm đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục số tiền 40.000.000 đồng do đó bị cáo có trách nhiệm tiếp tục trả cho ông Trần Hữu C số tiền 460.000.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Phúc X trình bày tranh luận: thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tuy nhiên trong vụ án này bị cáo chỉ thừa nhận hành vi đối với 01 xe ô tô chứ không phải là 02 chiếc như cáo trạng đã nêu; vấn đề này có liên quan đến số tiền làm căn cứ để xác định tình tiết định khung đối với bị cáo; do đó, đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Bị cáo thống nhất với phần trình bày của người bào chữa; bị cáo không tham gia tranh luận gì thêm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên không có tranh luận

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tham gia tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận đối đáp: về xác định tình tiết định khung bị cáo có hành vi chiếm đoạt 02 xe ô tô, theo kết luận định giá tài sản mỗi xe đều có giá trị trên 500.000.000 đồng; tại phiên tòa tuy bị cáo chỉ thừa nhận có hành vi chiếm đoạt 01 xe nhưng căn cứ vào lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định bị cáo có hành vi chiếm đoạt 02 xe ô tô nên đề nghị của người bào chữa về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung là không có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của luật sư bào chữa cho bị cáo.

Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, trong nội dung đơn xin vắng mặt, bị hại xác nhận có nhận của gia đình bị hại số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng và có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Phúc X không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo chỉ thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 29/6/2021 đối với xe ô tô hiệu Mazda 3, biển số 61A- 874.35; tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Biên bản đối chất ngày 17/5/2024 (bút lục 235 đến 237). Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: vào các ngày 29/6/2021 và ngày 01/7/2021 để có tiền trả nợ và tiêu xài nên Huỳnh Phúc X nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô của ông Trần Hữu C nên Huỳnh Phúc X cung cấp thông tin gian dối để ông C tin tưởng cho bị cáo X thuê 02 xe ô tô hiệu Mazda 3 biển số 61A-874.35 và 61A-874.96 thông qua việc thuê xe ô tô tự lái sau khi nhận được xe ô tô từ ông C, X liên hệ với ông Nguyễn Hữu T để bán với giá 550.000.000 đồng/xe, X đã nhận cọc của ông T tổng cộng 500.000.000 đồng. Sau đó, ông C đến gặp ông T thương lượng nhận lại 02 xe ô tô, ông C trả cho ông T 500.000.000 đồng.

[4] Tại Kết luận định giá tài sản số 307/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Dương xác định trị giá xe ô tô biển số 61A-874.35 là 575.000.000 đồng và 61A- 874.96 là 575.000.000 đồng. Tổng trị giá 02 xe ô tô tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.150.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Phúc X về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[5] Hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị trên 500.000.000 đồng là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị nhưng vì động cơ tư lợi mà bị cáo đã cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án cho phù hợp.

[6] Đối với ông Nguyễn Hữu T, bà Vương Thu M khi mua 02 xe ô tô biển số 61A-874.35 và 61A-874.96 Cơ quan điều tra xác định ông T, bà M không biết đây là tài sản do X phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp.

[7] Đối với hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Huỳnh Phúc X, quá trình điều tra không thu giữ được bản chính do X đã tiêu hủy nên không đủ căn cử xử lý Huỳnh Phúc X về tội Làm giả tài liệu của cơ quan theo quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nhưng còn hạn chế, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[10] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; do đó bị cáo Huỳnh Phúc X tiếp tục có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Hữu C số tiền 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng.

[11] Về xử lý vật chứng: không có.

[12] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, điều luật và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo là không phù hợp nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[14] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án và có trách nhiệm bồi thường nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phúc X phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Phúc X 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo Huỳnh Phúc X có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Hữu C số tiền 460.000.000 (bốn trăm sáu mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí sơ thẩm: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Huỳnh Phúc X phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 22.400.000 (hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được giao theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương;
  • - Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng (4);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo thường trú (thay văn bản thông báo);
  • - Phòng KTNV và Thi hành án (3);
  • - Lưu: Văn phòng (2), hồ sơ vụ án. NMT. 23.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger