|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2024/HS-ST Ngày 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt.
- Ông Tạ Văn Doanh
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2024/TLST - HS, ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 và con bà Lý Thị H, sinh năm 1965; Vợ: Nông Thị K sinh năm 1993(đã ly hôn); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 124/QĐ-XPHC ngày 25/8/2020 của Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Văn L số tiền 1.600.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 04/9/2020 L đã chấp hành xong.
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 134/QĐ-XPHC ngày 14/5/2021 của Công an huyện L xử phạt Nguyễn Văn L số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên L chưa nhận được Quyết định xử phạt nêu trên.
Bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lê Văn A, sinh năm 1993 (vắng mặt)
- HKTT: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Hiện đang cải tạo tại Trạm giam P1, Bộ C.
- - Anh Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- HKTT: Thủ Dương, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Hiện đang cải tạo tại Tram giam H8, Bộ C.
- - Anh Dương Hồng X, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- HKTT: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Hiện đang cải tạo tại Tram giam T8, Bộ C
- - Chị Vũ Thị L1, sinh năm 2003 (vắng mặt)
- HKTT: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Hiện đang cải tạo tại Tram giam H8, Bộ C
- - Anh Lý Văn H2, sinh năm 2005 (vắng mặt)
- HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Hiện đang cải tạo tại Tram giam Q1, Bộ C
- - Chị Đào Thị K1, sinh ngày 21/12/2007 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người giám hộ của chị Đào Thị K1: Bà Hoàng Thị M - Phó Chủ tịch Hội phụ nữ huyện L (vắng mặt)
- - Anh Đặng Thành Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số nhà C T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- - Chị Dương Thị T1, sinh năm 2000 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
- - Chị Lâm Thị H3, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- - Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Bản P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1995 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Lê Thị Kiều T2, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- - Chị Dương Thị T4, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Nguyễn Hoàng H4, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 07/03/2023 Nguyễn Văn L, sinh năm 1995, trú tại thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chủ quán hát Karaoke Đ, địa chỉ: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang ở phòng trọ tại TDP L, thị trấn C, huyện L thì nhận được điện thoại từ số điện thoại 0979.322.xxx của Lê Văn A, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, gọi đến số thuê bao 0928.888.195 của L đặt phòng tại quán H9 để sử dụng ma túy, đồng thời A bảo L “Lấy cho anh hai chỉ ke và hai viên kẹo” (tức ma túy) để A sử dụng. L đồng ý và bảo An cứ vào trong quán hát. Sau đó A điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A-479.93 nhãn hiệu Huyndai loại I10 chở Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1997, trú ở cùng thôn đến quán H9 để hát và sử dụng ma túy. Còn L, sau khi nhận được điện thoại của A, L gọi điện thoại đến số thuê bao 0854.485.320 của Lý Văn H2, sinh năm 2005, trú tại thôn G, xã T, huyện L nhờ H2 đến chỗ L lấy ma túy mang vào quán hát Đoàn T5 đưa cho Dương Hồng X, sinh năm 1997, trú tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là nhân viên của quán). H2 đồng ý.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, A và H1 đến quán H9, thấy cổng đóng. A gọi điện thoại cho L thông báo đã đến nơi, bảo L mở cổng. L gọi điện thoại đến số thuê bao 0967.155.640 của Dương Hồng X bảo X ra mở cổng cho khách. Khi X ra mở cổng cho A và H1 vào, A bảo X cho một phòng và hai nhân viên. X dẫn A và H1 vào phòng Víp 2 (Phòng 201) của quán rồi bảo Vũ Thị L1, sinh năm 2003, trú quán: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang và Đào Thị K1, sinh ngày 21/12/2007, trú quán: xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (tên gọi khác: Đào Thị Mai H5) vào phòng Víp 2 để phục vụ rót bia, bấm bài hát cho H1 và A. Còn H2 sau khi nhận được điện thoại của L, H2 đã đến phòng trọ của L tại tổ dân phố Lê Hồng P gặp L để lấy ma túy. Khi H2 đến, L lấy 04 túi nilon màu trắng, một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa nhựa, trong đó có 02 túi nilon, mỗi túi chứa 01 viên ma túy kẹo, màu xanh nước biển, hình tam giác là ma túy loại MDMA và 02 túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamin ở túi quần đưa cho H2. Số ma túy trên là do L mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực bờ hồ thanh niên thuộc địa phận thị trấn C, huyện L vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/03/2023 với số tiền 2.500.000 đồng, mục đích để sử dụng, khi A hỏi mua ma túy sử dụng ở quán hát, L đã để lại cho A.
Sau khi nhận ma túy từ L, H2 đã mang đến quán Karaoke Đoàn T5 đưa cho X, rồi H2 đi vào phòng nhân viên của quán ngồi chơi. X cầm 04 túi ma túy H2 đưa và đem vào phòng Víp 2 đặt trên bàn rồi X quay lại quầy lễ tân lấy 01 đĩa sứ màu trắng mang vào phòng Víp 2 cho mọi người trong phòng sử dụng ma túy. Lúc này, tại phòng Víp 2, H1 và A mỗi người lấy 01 viên ma túy kẹo bẻ làm đôi, H1 sử dụng một nửa viên và đưa một nửa viên cho Đào Thị K1 để sử dụng nhưng K1 không sử dụng mà để trên bàn, A cũng sử dụng một nửa viên và đưa một nửa viên cho L1 nhưng L1 không sử dụng mà ném vào phía góc phòng bên trong (hướng từ cửa đi vào). Sau đó H1 ngồi trên tấm đệm trong phòng, cầm chiếc bình khò ga mini có sẵn ở trên bàn và chiếc đĩa sứ do X mang vào rồi H1 bật khò ga lên hơ lửa xuống bên dưới chiếc đĩa sứ làm cho nóng đĩa. Tiếp đó H1 đô 01 túi ma túy K2 (Ke) lên mặt đĩa và dùng 01(một) thẻ nhựa cứng, hình chữ nhật tối màu (loại thẻ ngân hàng, không rõ ai là người chuẩn bị) để kẻ ma túy trên đĩa thành từng đường thẳng (thường gọi là “xào Ke”) để cho mọi người sử dụng. Khi H1 “xào Ke”, do trong phòng tối nên K1 đã lấy điện thoại của L1 rồi bật đèn Flat soi cho H1 “xào Ke”. Còn A đi ra xe ô tô lấy 01 tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng mang vào phòng Víp 2 để trên đệm trước mặt của L1, đồng thời lấy 03(ba) điếu thuốc lá của mình để trên tờ tiền, mục đích để L1 cuốn tẩu hút sử dụng ma túy. L1 đã cầm 03(ba) điếu thuốc lá tách lấy 03(ba) vỏ đầu lọc thuốc lá và quấn tờ tiền polymer thành hình tròn, lúc này K1 lấy 03 (ba) vỏ đầu lọc thuốc lá L1 vừa tách ra rồi đút ống hình tròn được làm bằng tờ tiền vào giữa ba vỏ đầu lọc thuốc lá để cố định thành ống hút. Sau đó A, H1, L1 và K1 cùng sử dụng ma túy Ke. Khi sử dụng hết số ma túy trên đĩa sứ, H1 tiếp tục lấy 01 túi ma túy Ketamin còn lại đổ ra đĩa sứ và “xào K3” rồi cùng mọi người tiếp tục cùng sử dụng.
Khoảng hơn 22 giờ cùng ngày X phát hiện có lực lượng Công an đến cổng quán nên đã vào phòng Víp 2 thông báo cho mọi người biết và bảo mọi người giải tán, đồng thời X cầm chiếc đĩa sứ dùng để sử dụng ma túy trong phòng Víp 2 mang cất giấu ở gầm tủ lạnh tại khu vực quầy lễ tân rồi ra mở cổng cho lực lượng công an. Còn K1 cầm nửa viên ma túy kẹo ở trên bàn trong phòng mà trước đó H1 đưa cho mang vào phòng nhân viên của quán để ở trên bệ cửa sổ phòng. Lúc này thấy H2 đang ở trong phòng, K1 bảo H2 lấy nửa viên kẹo ở cửa sổ dấu xuống dưới đệm. H2 lấy một mảnh giấy ăn gói nửa viên ma túy kẹo nêu trên vào rồi cất giấu dưới đệm trong phòng nhân viên.
Hồi 22 giờ 30 phút cùng ngày Tổ công tác Công an xã K, huyện L kiểm tra hành chính quán H9. Tại thời điểm kiểm tra trong quán có tổng số 13 người gồm: Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1997; Lê Văn A, sinh năm 1993 cùng trú tại thôn T, xã N, huyện L tỉnh Bắc Giang; Vũ Thị L1, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Đào Thị K1, sinh ngày 21/12/2007, trú tại xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (thời điểm kiểm tra K1 khai tên Đào Thị Mai H5 sinh năm 2004 trú tại xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên); Nguyễn Văn L2, sinh 1995, trú tại thôn P, xã K, huyện L; Nguyễn Văn V, sinh năm 1995, trú tại thôn G, xã T, huyện L; Dương Thị T1, sinh năm 2000, trú tại thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Lâm Thị H3, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995, trú tại Bản M, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Đặng Thành Đ, sinh năm 1990, trú tại thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Thị T3, sinh năm 2001, trú tại xã Đ huyện Đ, tỉnh Kom Tum; Dương Hồng X, sinh năm 1997, trú tại thôn G, xã T, huyện L; L, sinh ngày 26/04/2005, trú tại thôn T xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tiến hành test nhanh ma túy, kết quả có 09/13 người dương tính với ma túy gồm Nguyễn Ngọc H1, Lê Văn A, Vũ Thị L1, Đào Thị K1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn V, Dương Thị T1, Lâm Thị H3, Nguyễn Văn Q. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã K để làm việc.
Ngày 08/03/2023 Nguyễn Ngọc H1, Lê Văn A đến Công an xã K, huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Cùng ngày Công an xã K chuyển tài liệu cùng tang vật cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 08/03/2023; 09/03/2023 Dương Hồng X, Lý Văn H2, Vũ Thị L1, Đào Thị Mai H5 (tức Đào Thị K1) đến Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 08, 09/03/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp quán H9 ở Thôn P, xã K, huyện L; khám xét khẩn cấp xe ô tô biển kiểm soát 98A-479.93 của Lê Văn A đã sử dụng đi đến quán H9; khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn A, Nguyễn Ngọc H1 tại thôn T, xã N, huyện L; nơi ở của Dương Hồng X tại thôn G, xã T, huyện L; nơi ở của Lý Văn H2 tại Thôn T, xã T, huyện L; nơi ở Nguyễn Văn L tại thôn N, xã K, huyện L.
Kết quả khám xét xe ô tô biển kiểm soát 98A-479.93, nơi ở của Lê Văn A, Nguyễn Ngọc H1, Dương Hồng X, Lý Văn H2, Nguyễn Văn L không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Khám xét quán H9: Tại nên góc phòng bên trong bên phải hướng từ cửa đi vào phòng “Vip 2" 01 mảnh viên nén màu xanh (nghi là ma túy) được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu “Vip 2”; Tại nên dưới đệm thứ 2 bên phải hướng từ cửa đi vào gần cửa sổ 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa 01 mảnh viên nén màu xanh (nghi là ma túy) được niêm phong trong phong bì, dán kín, ký hiệu “Phòng nhân viên”, phòng sát quầy thu ngân; 01 đầu thu màu trắng nhãn hiệu KB Vision tại quầy thu ngân của quán H9, được niêm phong trong hộp giấy dán kín ký hiệu “Đầu thu”; 01 thẻ nhớ 32GB thu tại C an ninh tại góc tường bên trong bên phải của sân quán karaoke Đoàn T5, được cho vào bên trong phong bì dán kín ký hiệu “Thẻ sân”; 01 thẻ nhớ 32GB thu tại Camera an ninh trước cổng quán karaoke Đoàn T5, được cho vào phong bì dán kín ký hiệu “Thẻ cổng”.
Ngày 08/03/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ đồ vật tài liệu gồm: Tạm giữ của Lê Văn A: 01 xe ô tô mang biển số 98A-479.93 nhãn hiệu Huyndai loại xe Grand i10 số máy G3LAEM146091 số khung MALA75AAEM123894 màu trắng, cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng, 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 98 021643 mang tên Lê Thị Kiều T2, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max dung lượng 64GB lắp số thuê bao 0979.322.332 màu gold đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT A”; tạm giữ của Lý Xuân H6 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s dung lượng 16GB màu gold lắp số thuê bao 0854.485.320 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT H6”; tạm giữ của Dương Hồng X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng, số IMEI 353798087804706, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “ĐT Xuân”; tạm giữ của Nguyễn Ngọc H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s số máy NKQR2LL/A số seri FRDVJ1SKGRYF, đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT H1”; tạm giữ của Vũ Thị L1 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu đen số IMEI 357272093792277 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT LOAN”; tạm giữ của Đặng Thành Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng số IMEI 355899060987852, đã qua sử dụng; tạm giữ của Đào Thị Mai H5 (tức Đào Thị K1) 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đỏ, đã qua sử dụng; tạm giữ của Nguyễn Văn V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng nhạt, đã qua sử dụng; tạm giữ của Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh đen, đã qua sử dụng; tạm giữ của Nguyễn Thị T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu hồng, đã qua sử dụng; tạm giữ của Dương Thị T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, đã qua sử dụng; tạm giữ của Lâm Thị H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng; tạm giữ của Nguyễn Văn L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, đã qua sử dụng.
Trong các ngày 09, 10/03/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của Nguyễn Ngọc H1, Lê Văn A, Vũ Thị L1, Đào Thị Mai H5; Dương Hồng X về hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy; theo lời khai của Lý Văn H2 về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Ngày 09/03/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Ngọc H1, Lê Văn A, Vũ Thị L1, Đào Thị Mai H5, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn V, Dương Thị T1, Lâm Thị H3, Nguyễn Văn Q, Đặng Thành Đ, Nguyễn Thị T3, Dương Hồng X, Lý Văn H2. Tại bản kết luận giám định số 426/KL-KTHS ngày 15/03/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:
- “5.1. Trong các mẫu chất lỏng (nước tiểu) được đựng trong các chai nhựa ký hiệu “Nước tiểu Đ” “Nước tiểu H2” “Nước tiểu T3” “Nước tiểu T1” đều không tìm thấy chất ma túy.
- 5.2. Trong các mẫu chất lỏng (nước tiểu) được đựng trong các chai nhựa ký hiệu “Nước tiểu X” “Nước tiểu L1” “Nước tiểu H5” “Nước tiểu H3” “Nước tiểu V” đều tìm thấy chất N và D
- 5.3. Trong các mẫu chất lỏng (nước tiểu) được đựng trong các chai nhựa ký hiệu “Nước tiểu Q” “Nước tiểu của Lãm 1995” “Nước tiểu H1” “Nước tiểu của A” đều tìm thấy chất ma túy MDMA và N, D.”
Ngày 09/03/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ niêm phong trong bì thư ký hiệu “Víp 2”, “Phòng nhân viên”. Tại bản kết luận giám định số 427/KL-KTHS ngày 15/03/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:
- “5.1 Trong 01(một) phong bì kí hiệu “Víp 2” đã được niêm phong gửi giám định: 01(một) mảnh viên nén màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,148 gam loại MDMA.
- 5.2 Trong 01 phong bì ký hiệu “Phòng nhân viên” đã được niêm phong gửi giám định: 01 (một) mảnh viên nén màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,220 gam loại MDMA.”
Ngày 11/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy tại đĩa sứ hình tròn, được niêm phong ký hiệu “Đĩa 1”, “Đĩa 2”, “Đĩa 3” thu giữ tại gầm tủ lạnh quầy lễ tân. Tại bản kết luận giám định số 691/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận: “Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng, được dán kín, niêm phong bằng giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu tím, ký hiệu “Đĩa 1”, không xác định được khối lượng của mẫu; Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng được dán kín, niêm phong bằng giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu hồng, ký hiệu “Đĩa 2”, không xác định được khối lượng mẫu; Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine trên 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng được dán kín, niêm phong bằng giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, ký hiệu “Đĩa 3” không xác định được khối lượng của mẫu.
Trong các ngày 27/4/2023; 16/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành Lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm đối với số thuê bao 0979.322.332; 0928.888.195; 0854.485.320; 0967.155.640. Kết quả: chủ số thuê bao 0979.322.332 là Lê Văn An sinh ngày 22/05/1993 địa chỉ Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chủ thuê bao 0928.888.195 là Nguyễn Văn L sinh ngày 10/9/1995 địa chỉ Bắc Giang; chủ thuê bao 0854.485.320 là Nguyễn Văn B địa chỉ Ấp Đ T, C, Cà Mau; chủ thuê bao 0967.155.640 là Dương Hồng X địa chỉ T, L, Bắc Giang.
Ngày 27/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, lắp sim số 0979.322.332 đã thu giữ của Lê Văn A. Tại bản kết luận giám định số 691/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:
- “1. Khôi phục trích xuất được 61 dữ liệu nhật ký cuộc gọi có trong 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax gửi giám định (thời gian trong ngày 07/03/2023).
- 2. Khôi phục trích xuất được 20 dữ liệu tin nhắn SMS, iMessage 212 dữ liệu tin nhắn từ ứng dụng Zalo không tìm thấy dữ liệu tin nhắn từ ứng dụng Messenger trong 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XsMax gửi giám định (thời gian trong ngày 07/03/2023).Chi tiết dữ liệu trích xuất được thể hiện trong thư mục có tên “Dữ liệu” dung lượng 0,98MB lưu trữ trong 01(một) CD-R nhãn hiệu Maxell, màu cam)."
Ngày 06/06/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, lắp sim số 0854.485.320 đã thu giữ của Lý Văn H2. Tại bản kết luận giám định số 1048/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận: “Tìm thấy khôi phục trích xuất được 54 dữ liệu tin nhắn SMS tin nhắn từ ứng dụng Zalo; 09 dữ liệu cuộc gọi trong khoảng thời gian từ 17 giờ 00 ngày 07/03/2023 đến 24 giờ 00 phút ngày 07/03/2023 trên 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S gửi giám định). Chi tiết dữ liệu các dữ liệu của máy điện thoại gửi giám định được thể hiện trong thư mục có tên “Dữ liệu” tổng dung lượng 30,2KB được lưu trữ trong 01(một) đĩa CD-R nhãn hiệu Maxell, màu cam.
Sau khi phạm tội Nguyễn Văn L bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 29/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn L. Ngày 01/8/2024 Nguyễn Văn L bị bắt theo Quyết định truy nã.
Về vật chứng vụ án: Đối với số vật chứng đã thu giữ nêu trên đã được giải quyết tại Bản án số 124/2023/HSST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn. Còn lại 01 đầu thu màu trắng nhãn hiệu KB VISION; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L và tại phiên toà hôm nay Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Quá trình chuẩn bị xét xử, người nhà bị cáo L đã tự nguyện nộp 200.000 đồng tại Chị cục THADS huyện L, tỉnh Bắc Giang theo biên lai thu số 0002512 ngày 11/12/2024. Mục đích nộp số tiền trên là nộp trước án phí cho bị cáo L.
Cáo trạng số 157/CT-VKS ngày 22/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Văn L từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/08/2024.
Không phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 đầu thu màu trắng nhãn hiệu KB VISION; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
Ngoài ra vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý tiền án phí hình sự sơ thẩm, và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu hồi được, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ, ngày 07/03/2023, Nguyễn Văn L, sinh năm 1995, trú quán: thôn P, xã K, huyện L là chủ quán hát Đoàn T5, có địa chỉ tại thôn B, xã K, huyện L đã chỉ đạo nhân viên của quán bố trí phòng và cung cấp ma tuý cho Lê Văn A, Nguyễn Ngọc H1, Vũ Thị L1 và Đào Thị K1, sinh ngày 21/12/2007 (thời điểm này K1 chưa đủ 16 tuổi) để các đối tượng sử dụng ma tuý tại phòng 201 của quán. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày khi các đối tượng nêu trên đang sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an xã K kiểm tra phát hiện, thu giữ công cụ, dụng cụ các đối tượng đã dùng để sử dụng ma túy
Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Việc bị cáo bị truy tố, xét xử ngày hôm nay với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong tình hình xã hội hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhổi cho xã hội và ngày càng có diễn biến phức tạp, nó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc gia đình, suy thoái đạo đức xã hội. Do đó cần phải xử lý về hình sự đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên HĐXX thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án HĐXX xét thấy: Bị cáo L có nhân thân xấu, bị cáo biết tác hại của ma túy và việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị Nhà nước cấm, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý do vậy cần phải xử lý đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 255 BLHS để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5] Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Vai trò của bị cáo L trong vụ án này là người giúp sức cho Lê Văn A trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Còn đối với Lê Văn A những người khác trong cùng vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử bằng vụ án khác. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào vai trò của bị cáo L trong vụ án để quyết định hình phạt tương ứng.
[6] Về vật chứng:
Đối với số vật chứng đã thu giữ nêu trên đã được giải quyết tại Bản án số 124/2023/HSST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đối với 01 đầu thu màu trắng nhãn hiệu KB VISION; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Quá trình điều tra không xác định được tài sản này là của ai. Đây là vật có giá trị nên cần căn cứ Điều 106 BLTTDS, Điều 47 BLHS tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[7] Các vấn đề khác.
Đối với Đào Thị K1, sinh ngày 21/12/2007 trú tại xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã có hành vi cùng các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bản thân K1 trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 07/3/2023. Tuy nhiên tại thời điểm phạm tội Kia mới được 15 tuổi 02 tháng 14 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, ngày 16/6/2023 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K1 bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với Lâm Thị H3, Dương Hồng X, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn L2 tại thời điểm kiểm tra ngày 08/3/2023 xét nghiệm nước tiểu H3, X, V, Q, L2 đều tìm thấy chất N và D, các đối tượng khai nhận trước đó có sử dụng ma túy tại địa điểm khác nhau, không sử dụng tại quán H9. Ngày 16/6/2023 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lâm Thị H3, Dương Hồng X, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn L2 mỗi người 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Dương Thị T4, sinh năm 1979, trú tại thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chủ sở hữu quán H9. Ngày 03/08/2022 bà T4 cho Nguyễn Hoàng H4 sinh năm 1991 trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L thuê quán để kinh doanh Karaoke. Quá trình điều tra xác định cả bà T4 và H4 đều không biết việc các đối tượng Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán, nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với bà Dương Thị T4 và Nguyễn Hoàng H4.
Đối với 01 thẻ cào hình chữ nhật, tối màu; 01 đầu khò gắn vào 01 bình ga mini; 01 ống hút được cuốn từ 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 20.000đ là các công cụ các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng V1, quá trình kiểm tra, khám xét không thu giữ được, không xác định được ai là người cất giấu nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không thu hồi được.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Huyndai loại i10 biển kiểm soát 98A-479.93 Lê Văn A sử dụng chở Nguyễn Ngọc H1 đến quán H9 thuộc sở hữu của chị Lê Thị Kiều T2, sinh năm 1997 (là vợ của A). Quá trình điều tra xác định chị T2 không biết việc A tổ chức sử dụng xe ô tô trên đến quán H9 sử dụng ma túy nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị T2 là có căn cứ
Đối với hành vi phạm tội của Lê Văn A, Nguyễn Văn H7, Dương Hồng X, Vũ Thị L1, Lý Văn H2 đã bị Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử tại Bản án số 124/2023/HSST ngày 26/9/2023 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự.
Đối với Phạm Thùy T6, sinh năm 2000, trú quán: tổ dân phố Y, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (là bạn gái của L) có mặt tại phòng trọ của L vào tối ngày 07/03/2023, quá trình điều tra xác định khi ở cùng L, T6 không biết việc L cất giấu ma tuý trong người; không biết việc L nhờ H2 mang ma tuý vào quán H9; T6 không biết, không được bàn bạc, hưởng lợi gì trong việc L thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với T6 là có căn cứ
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí HSST, nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng đã nộp đủ án phí theo biên lai thu tiền số 0002512 ngày 11/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Văn L 08 (T7) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 đầu thu màu trắng nhãn hiệu KB VISION; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB; 01 thẻ nhớ dung lượng 32GB được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí HSST, nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng đã nộp đủ án phí theo biên lai thu tiền số 0002512 ngày 11/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tổng đạt bản án hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Công Định |
Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 155/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo L phạm tội.......
