Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY NAM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 03-12-2024.

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Kim Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Thị Nhặc
  2. Ông Phạm Văn Nam

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 463/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 552/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kiều T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Địa chỉ liên hệ: Ấp B, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Trần Thanh T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Tất cả các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2024, bản tự khai và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa; nguyên đơn chị Đặng Thị Kiều T trình bày:

Về hôn nhân:

Trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước, chị và anh Trần Thanh T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, vào năm 2007. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh T1 cờ bạc, rượu chè dẫn đến nợ nần bỏ nhà đi, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh T1 vẫn không thay đổi. Chị đã nộp đơn ly hôn hai lần và sau đó rút đơn do anh T1 hứa thay đổi. Tuy nhiên, sau đó anh T1 vẫn không thay đổi nên nay chị tiếp tục nộp đơn ly hôn. Anh chị chính thức sống ly thân khoảng 02 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân, anh chị không có tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh T1 do không còn tình cảm và không muốn hàn gắn với anh T1 do chị đã cho anh T1 nhiều cơ hội nhưng anh T1 vẫn không sửa đổi.

Về con chung:

Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Trần Thị Quỳnh A, sinh ngày 14/02/2008 và Trần Hoàng A1, sinh ngày 28/5/2012, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 cháu cho đến khi cháu Quỳnh A, Hoàng A1 tròn 18 tuổi. Chị hiện tại nghề buôn bán bánh, chăn nuôi và làm dừa thuê, thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng sáu đến bảy triệu đồng. Chị không biết hiện tại anh T1 làm nghề gì và thu nhập mỗi tháng bao nhiêu nhưng chị biết thu nhập của anh T1 đảm bảo điều kiện cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản:

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, anh chị không có nợ ai.

Tại bản khai và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; bị đơn anh Trần Thanh T1 trình bày:

Về hôn nhân:

Anh thống nhất hoàn toàn phần trình bày của chị T về điều kiện, thời gian kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mất hạnh phúc. Anh thừa nhận trước đây anh có cờ bạc và chị T đã nhiều lần nộp đơn ly hôn với anh nhưng hiện tại anh không còn cờ bạc nữa. Anh nghĩ mâu thuẫn giữa anh và chị T là mâu thuẫn nhỏ về kinh tế, anh chị không có tiếng nói chung nên anh có lớn tiếng với chị T dẫn đến anh chị cự cãi nhau. Anh chị chính thức sống ly thân khoảng 02 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân, anh chị không có tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm do chị T chặn cuộc gọi của anh. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị T do vẫn còn thương vợ thương con, muốn hàn gắn để cùng nhau nuôi dạy các con nên người nhưng anh không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Về nuôi con chung:

Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Trần Thị Quỳnh A, sinh ngày 14/02/2008 và Trần Hoàng A1, sinh ngày 28/5/2012, hiện đang sống với chị T. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp Tòa giao con cho chị T nuôi thì anh không đồng ý cấp dưỡng do con không sống với anh. Hiện tại anh làm nghề chăn nuôi heo, thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng bảy đến tám triệu đồng. Ngoài ra, anh còn có thu nhập khác từ dừa nên đảm bảo điều kiện trực tiếp nuôi hai con. Anh không biết chị T làm nghề gì và thu nhập như thế nào.

Về chia tài sản:

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, anh chị không có nợ ai.

Tại Biên bản lấy ý kiến đề ngày 07/11/2024, cháu Trần Thị Quỳnh A và Trần Hoàng A1 đều trình bày như sau:

Nếu cha và mẹ cháu ly hôn với nhau, cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.

Tại Biên bản xác minh đề ngày 07/11/2024 về nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh T1 có nội dung như sau:

Chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, vào năm 2007 và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương. Trong quá trình sinh sống tại địa phương, chị T, anh T1 không có yêu cầu chính quyền giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống hôn nhân nên xã không nắm rõ được nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn của chị T và anh T1.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đảm bảo đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Kiều T. Chị Đặng Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Thanh T1; Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung tên Trần Thị Quỳnh A, sinh ngày 14/02/2008 và Trần Hoàng A1, sinh ngày 28/5/2012; anh Trần Thanh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Quỳnh A, cháu Hoàng A1 mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 cháu. Thời hạn cấp dưỡng: Tính từ tháng 12/2024 cho đến khi cháu Quỳnh A, cháu Hoàng A1 tròn 18 tuổi. Hình thức cấp dưỡng: Mỗi tháng cấp 01 lần; Về tài sản chung: Chị T và anh T1 thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam nhận định:

[1] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh T1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc theo chị T trình bày là do anh T1 cờ bạc, rượu chè dẫn đến nợ nần bỏ nhà đi, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh T1 vẫn không thay đổi. Chị đã nộp đơn ly hôn hai lần và sau đó rút đơn do anh T1 hứa thay đổi. Tuy nhiên, sau đó anh T1 vẫn không thay đổi nên nay chị tiếp tục nộp đơn ly hôn. Anh chị chính thức sống ly thân khoảng 02 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân, anh chị không có tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh T1 do không còn tình cảm và không muốn hàn gắn với anh T1 do chị đã cho anh T1 nhiều cơ hội nhưng anh T1 vẫn không sửa đổi. Anh T1 thừa nhận trước đây anh có cờ bạc và chị T đã nhiều lần nộp đơn ly hôn với anh nhưng hiện tại anh không còn cờ bạc nữa. Anh nghĩ mâu thuẫn giữa anh và chị T là mâu thuẫn nhỏ về kinh tế, anh chị không có tiếng nói chung nên anh có lớn tiếng với chị T dẫn đến anh chị cự cãi nhau. Anh chị chính thức sống ly thân khoảng 02 tháng nay. Trong thời gian sống ly thân, anh chị không có tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm do chị T chặn cuộc gọi của anh. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị T do vẫn còn thương vợ thương con, muốn hàn gắn để cùng nhau nuôi dạy các con nên người nhưng anh không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, anh T và chị T1 kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước và cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung nhưng khi có mâu thuẫn xảy ra anh chị không tìm giải pháp hàn gắn mà sống bỏ mặc, không quan tâm đến nhau. Nguyên nhân chính dẫn đến anh chị mất hạnh phúc là do anh T1 cờ bạc. Tại phiên tòa, anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng anh không đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, các đương sự đều thống nhất trước đây chị T đã nhiều lần nộp đơn ly hôn với anh T1 nhưng anh T1 hứa sửa đổi nên chị T rút đơn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã có từ rất lâu và chị T cũng đã tạo cơ hội cho anh T1 rất nhiều lần để anh chị hàn gắn xây dựng gia đình hạnh phúc cùng nhau nuôi dạy các con. Tuy nhiên, sau đó anh T1 vẫn không thay đổi, điều đó đã đánh mất lòng tin của chị T đối với anh T1 nên tại phiên tòa, chị T vẫn cương quyết ly hôn với anh T1 do không còn tình cảm và không muốn hàn gắn với anh T1. Điều đó chứng tỏ rằng cuộc sống hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp.

[2] Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Trần Thị Quỳnh A, sinh ngày 14/02/2008 và Trần Hoàng A1, sinh ngày 28/5/2012.

Cả chị T và anh T1 đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung. Xét thấy, mặc dù chị T và anh T1 đều có thu nhập ổn định đủ điều kiện đảm bảo trực tiếp nuôi hai con chung nhưng tại biên bản lấy ý kiến đề ngày 07/11/2024, cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1 đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt, cả thể chất, học tập, lẫn tâm sinh lý và tinh thần của các con nên để chị T tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung là phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng: Chị T yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 cháu cho đến khi cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1 tròn 18 tuổi. Anh T1 không đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung. Xét thấy, đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật thì sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chưa thành niên, việc cấp dưỡng nuôi con đồng thời là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con đối với con chưa thành niên. Nên để nhằm đảm bảo quyền lợi cho cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1 cần chấp nhận yêu cầu của chị T buộc anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng theo mức sống trung bình tại địa phương. Anh T1 cho rằng anh có thu nhập trung bình mỗi tháng 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định pháp luật mức cấp dưỡng nuôi con là không được thấp hơn ½ mức lương tối thiểu. Biết rằng mức lương tối thiểu vùng tại địa bàn huyện M, tỉnh Bến Tre do Chính phủ qui định tại thời điểm xét xử là 3.860.000 đồng. Tuy nhiên, chị T chỉ yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 cháu là sự tự nguyện nên ghi nhận. Vì vậy, buộc anh T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1 mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1 tròn 18 tuổi là phù hợp luật định, phù hợp với khả năng của anh T1 và đảm bảo đủ điều kiện vật chất cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của cháu Quỳnh A và cháu Hoàng A1, đồng thời cũng nâng cao quyền và nghĩa vụ đối với con chung của người không trực tiếp nuôi con.

[3] Về chia tài sản:

[3.1] Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh T1 thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[3.2] Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, anh chị không có nợ ai nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Đặng Thị Kiều T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và anh Trần Thanh T1 phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày N là phù hợp hoàn toàn với nhận định của Tòa nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Kiều T.

Chị Đặng Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Thanh T1.

2. Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, chị Đặng Thị Kiều T được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung tên Trần Thị Quỳnh A, sinh ngày 14/02/2008 và Trần Hoàng A1, sinh ngày 28/5/2012; Anh Trần Thanh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Quỳnh A, cháu Hoàng A1 mỗi tháng 1.500.000 đồng/01 cháu. Thời hạn cấp dưỡng: Tính từ tháng 12/2024 cho đến khi cháu Quỳnh A, cháu Hoàng A1 tròn 18 tuổi. Hình thức cấp dưỡng: Mỗi tháng cấp 01 lần.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung chưa thành niên, theo yêu cầu của chị T, anh T1, Toà án có thể thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về chia tài sản:

3.1. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Kiều T và anh Trần Thanh T1 thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét giải quyết.

3.2. Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, anh chị không có nợ ai nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

4.1. Chị Đặng Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0003891 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam nên không phải nộp thêm.

4.2. Anh Trần Thanh T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam (1b);
  • - UBND xã Thành Thới B (49, 25/5/2007) (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HNGĐ - ST ngày 03/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 155/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger