Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HSST

Ngày: 28 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Mão

Bà Quách Thị Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2024/TLST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 14/11/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Đinh Anh T1, sinh năm: 1995 tại Ninh Bình. Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà A, ngách C, đường H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Đinh Văn T2 và con bà Phạm Thị Q; Vợ: Trịnh Thị N; Con: có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/9/2024 đến ngày 12/9/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho các bị cáo Đinh Anh T1: Ông Phạm Duy H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.

Bị hại: + Bà Trịnh Thị Hà Q1, sinh năm 1974

Trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981

Trú tại: Thôn X, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971

Trú tại: Thôn X, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt

+ Ông Nguyễn Trung D, sinh năm 1988

Trú tại: Thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đinh Anh T1 là đối tượng không có công ăn việc làm ổn định nên đã nảy sinh ý định đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh N thuộc phường N, thành phố N, tìm người sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/8/2024 đến ngày 09/9/2024, Đinh Anh T1 đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 06 giờ ngày 18/8/2024, Đinh Anh T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I (nắp máy đề chữ PUSAN KOREA) biển kiểm soát 52T1-0986 đi đến cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh N mục đích trộm cắp tài sản, T1 để xe ngoài cổng và đi bộ vào trong khu nhà C, lên tầng 2, khi qua phòng 215, T1 thấy ở trên giường bệnh đầu tiên bên tay phải có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh của chị Trịnh Thị Hà Q1 đang cắm sạc. T1 đi vào dùng tay rút sạc và lấy chiếc điện thoại rồi đi ra ngoài. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại, T1 bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 cho anh Nguyễn Trung D sinh năm 1988 trú tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình với giá 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 06/9/2024, T1 điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA, Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 35B1-621.96 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N với mục đích tìm tài sản để trộm cắp, T1 để xe ngoài cổng rồi đi bộ lên tầng 3, khu nhà C, Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Khi đi qua phòng 302, T1 thấy tại phía cuối giường thứ 2 bên tay trái có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 màu đen, ốp điện thoại màu hồng của chị Nguyễn Thị L, T1 lấy chiếc điện thoại cầm trên tay và đi ra ngoài, sau đó T1 mang chiếc điện thoại OPPO A92 trộm cắp được về phòng trọ để cất giấu chờ tiêu thụ.

Lần thứ ba: Khoảng 06 giờ ngày 09/9/2024, T1 điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA, Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 35B1-621.96 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N với mục đích tìm sơ hở để trộm cắp tài sản, T1 để xe ngoài cổng rồi đi bộ lên tầng 4, khu nhà C, Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Khi đi qua phòng 402, T1 thấy đầu giường có để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, ốp ngoài màu xanh của chị Nguyễn Thị H1, T1 lấy điện thoại cầm trên tay rồi rời đi. Khi đi đến khu vực cổng bệnh viện đa khoa tỉnh N gặp tổ công tác công an phường N đang làm nhiệm vụ kiểm tra. T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp 01 điện thoại iphone 7 màu đen, ốp ngoài màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Sirius màu đen đỏ, biển kiểm soát 35B1-621.96.

Quá trình điều tra, truy tìm vật chứng tại số nhà A, ngách C đường H, phố B, phường N, thành phố N thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I (nắp máy đề chữ PUSAN KOREA) biển kiểm soát 52T1-0986; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 màu đen; 01 áo cộc tay màu nâu; 01 áo cộc tay màu xanh viền cổ màu đen; 01 đôi giày màu xám, đế giày màu trắng, viền màu xanh; 01 quần bò dài màu xanh; 01 quần cộc màu tím than; 01 áo cộc tay màu xanh hai bên tay áo màu trắng; 01 đôi dép màu đen; 01 khẩu trang màu đen. Anh Nguyễn Trung D tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 12 màu xanh.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 12 64GB màu xanh trị giá 7.000.000 đồng, điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92 128 GB màu đen có giá 2.500.000 đồng, ốp điện thoại Oppo có giá 50.000 đồng, điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 32GB màu đen có giá 1.000.000 đồng, ốp điện thoại Iphone 7 có giá 20.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 10.570.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 12 màu xanh do anh Nguyễn Trung D giao nộp là tài sản của chị Trịnh Thị Hà Q1. Chiếc điện thoại di động OPPO A92 màu đen là tài sản của chị Nguyễn Thị L. Chiếc điện thoại di động Iphone 7 màu đen có ốp màu xanh là tài sản của chị Nguyễn Thị H1. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại các tài sản nêu trên cho chủ sở hữu là chị Trịnh Thị Hà Q1, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1 theo quy định. Các chủ sở hữu đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Về trách nhiệm dân sự, anh Nguyễn Trung D đề nghị Đinh Anh T1 trả lại số tiền 4.700.000 đồng do anh D mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh.

Tại bản Cáo trạng số 145/CT-VKSNB ngày 28/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đinh Anh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đinh Anh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Anh T1 từ 12 tháng tù giam đến 15 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả cho anh Nguyễn Trung D số tiền 4.700.000 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo cộc tay màu nâu; 01 áo cộc tay màu xanh viền cổ màu đen; 01 đôi giày màu xám, đế giày màu trắng, viền màu xanh; 01 quần bò dài màu xanh; 01 quần cộc màu tím than; 01 áo cộc tay màu xanh hai bên tay áo màu trắng; 01 đôi dép màu đen; 01 khẩu trang màu đen.
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7.
  • Bị cáo phải chịuđược miễn nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Anh T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với biên bản sự việc; biên bản xác định hiện trường; Kết luận định giá tài sản; Lời khai của bị hại; Vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trong 02 ngày 18/8/2024 và 06/9/2024, Đinh Anh T1 đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N, phường N, thành phố N. Tổng giá trị tài sản T1 trộm cắp là 9.550.000 đồng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn dân cư. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đinh Anh T1 phạm tội hai lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; Bị cáo đã tự thú về hành vi trộm cắp ngày 18/8/2024; bị hại là chị Nguyễn Thị L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[4] Về hình phạt: Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại các tài sản cho các bị hại là chị Trịnh Thị Hà Q1, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1 theo quy định. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì. Hội đồng xét xử không xem xét.

Tuy nhiên anh Nguyễn Trung D đề nghị bị cáo Đinh Anh T1 trả lại số tiền 4.700.000 đồng do anh D mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh của bị cáo, (chiếc điện thoại nêu trên anh D đã giao nộp cho cơ quan công an để trả lại cho bị hại). Tại phiên toà bị cáo xin nhận trách nhiệm trả lại cho anh D số tiền nêu trên. Do đó, cần buộc bị cáo phải trả cho anh Nguyễn Trung D số tiền 4.700.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo cộc tay màu nâu; 01 áo cộc tay màu xanh viền cổ màu đen; 01 đôi giày màu xám, đế giày màu trắng, viền màu xanh; 01 quần bò dài màu xanh; 01 quần cộc màu tím than; 01 áo cộc tay màu xanh hai bên tay áo màu trắng; 01 đôi dép màu đen; 01 khẩu trang màu đen là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà bị cáo đề nghị tiêu huỷ và không nhận lại.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là hộ cận nghèo nên được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Bị cáo, bị hại, người có qyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Anh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đinh Anh T1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/9/2024.

    Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự.

    Buộc bị cáo Đinh Anh T1 phải trả cho anh Nguyễn Trung D số tiền 4.700.000₫ (Bốn triệu bẩy trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày anh Nguyễn Trung D có đơn đề nghị thi hành án cho đến khi thi hành song tất cả các khoản tiền trên thì hàng tháng bị cáo Đinh Anh T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án, theo mức lãi suất được quy định tại điều 357 và khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  4. Trả lại cho bị cáo Đinh Anh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 áo cộc tay màu nâu; 01 áo cộc tay màu xanh viền cổ màu đen; 01 đôi giày màu xám, đế giày màu trắng, viền màu xanh; 01 quần bò dài màu xanh; 01 quần cộc màu tím than; 01 áo cộc tay màu xanh hai bên tay áo màu trắng; 01 đôi dép màu đen; 01 khẩu trang màu đen.

    (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày .... tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Anh T1 được miễn toàn bộ án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDtỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 155/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger