TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 155/2024/HSST Ngày: 18 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Văn Tòng
- Ông: Bùi Quốc Kiên
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- - Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: ông Nguyễn Khắc D - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 144/2024/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXX- ST, ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị D1 - Sinh ngày 20/4/1988, số CCCD: [...], tại phường B, TX. N, Thanh Hóa; Nơi cư trú: TDP T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông: Nguyễn Ngọc C – sinh năm 1965 và con bà Nguyễn Thị D2 – sinh nămn 1966; Chồng: Nguyễn Văn Q – sinh năm 1986, có hai con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 12/12/2022, bị TAND Tỉnh Thanh Hóa xử phạt 19 năm tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 năm tù về tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, theo bản án số 192/2022/HSST.
+ Ngày 25/10/2023, bị TAND Thị xã Nghi Sơn xử phạt 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo bản án số 104/2023/HSST.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 26/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn T – sinh năm 1972 và chị Nguyễn Thị N – sinh năm 1974 (Đều vắng mặt).
- - Người làm chứng: anh Nguyễn Văn Q – sinh năm 1986 (có mặt)
- + chị Phạm Thị H – sinh năm 1970 (có mặt)
Đều có địa chỉ tại: TDP T, phường H, TX. N, Thanh Hóa
Đều có địa chỉ tại: TDP T, phường H, TX. N, Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị D1, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa là lao động tự do tại địa phương; do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên D1 đã dùng sử dụng tài liệu giả, đưa thông tin giả mạo về việc có đất đấu thầu tại khu giải phóng mặt bằng thuộc tổ dân phố T, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa muốn bán để lừa đảo, chiếm đoạt tiền của vợ chồng anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị N ở cùng tổ dân phố, cụ thể như sau:
Vào tháng 6/2018, D1 đến gặp và nói với vợ chồng anh T, chị N, D1 có một mảnh đất đấu thầu có diện tích 110m² tại khu giải phóng mặt bằng thuộc tổ dân phố T, phường B, thị xã N muốn bán. Sau đó, D1 và vợ chồng anh T, chị N thỏa thuận mua bán mảnh đất trên với giá 650.000.000 đồng. Sau khi thống nhất giá cả, vợ chồng anh T đặt cọc trước cho D1 50.000.000 đồng, D1 về nhà viết 01 tờ phiếu thu ghi tên cơ quan phát hành là UBND phường B, ghi thu số tiền 50.000.000 đồng, bên dưới đóng dấu màu đỏ hình chữ nhật bên trong có hàng chữ "KẾ TOÁN LÊ THỊ C1 ĐÃ THU TIỀN" và đưa cho vợ chồng anh T để làm tin. Đến ngày 30/5/2019, D1 tiếp tục đến nhà anh T yêu cầu vợ chồng anh T đưa thêm cho D1 50.000.000 đồng nữa, anh T, chị N đồng ý. Sau khi nhận tiền, D1 về nhà viết 01 tờ phiếu thu tương tự như tờ phiếu thứ nhất nhưng ghi số tiền thu 100.000.000 đồng mang đến đưa cho vợ chồng anh T và bảo vợ chồng anh T đưa lại tờ phiếu thu 50.000.000 đồng trước đó. Sau đó, D1 đưa anh T đến khu giải phóng mặt bằng thuộc tổ dân phố T, phường B, thị xã N rồi chỉ cho anh T xem một mảnh đất (D1 không biết là đất của ai), D1 nói đây là mảnh đất đã nhận đặt cọc và bán cho vợ chồng anh T. Đến ngày 20/6/2020, D1 đưa cho vợ chồng anh T 01 tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N, bên dưới có chữ ký và ghi tên, chức danh người ký cấp là ông Phạm Văn N1 - Phó Chủ tịch UBND thị xã N, đóng dấu màu đỏ ghi dòng chữ “ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA” nhưng chỉ đề năm 2020, không có ngày tháng cấp (tờ giấy chứng nhận QSD đất này do D1 tự đặt mua trên mạng). Sau đó, theo yêu cầu của D1, vợ chồng anh T đưa thêm cho D1 số tiền 250.000.000 đồng, D1 về nhà viết
thêm 01 tờ phiếu thu tương tự 02 tờ phiếu trước nhưng ghi số tiền thu là 250.000.000 đồng, bên dưới tờ phiếu có ghi thêm nội dung "Phiếu thu lần hai 100.000.000 đồng, Tổng cộng 350.000.000 đồng". Đến ngày 22/6/2020, D1 đưa tờ phiếu thu này cho vợ chồng anh T và lấy lại tờ phiếu thu 100.000.000 đồng đã đưa trước đó. Khoảng tháng 7/2020, D1 đến gặp vợ chồng anh T lấy lại tờ phiếu thu lần 3 và tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mà D1 đã đưa cho vợ chồng anh T trước đó, nói dối là để làm thủ tục công chứng. Do tin tưởng D1 nên vợ chồng anh T đưa lại các tài liệu trên cho D1, tuy nhiên trước khi đưa lại các tờ phiếu thu lần 2, lần 3 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho D1 thì anh T có sử dụng điện thoại chụp ảnh lại. Đến ngày 22/6/2021, anh T phát hiện có người đang xây dựng nhà trên mảnh đất mà D1 bán cho mình nên đã gọi điện thoại hỏi D1, thì D1 trả lời Họ xây nhầm lên, mai cháu nói địa chính dẫn chú lên xây”. Lúc này, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên D1 nói dối với chồng là Nguyễn Văn Q và chị Phạm Thị H (là chị em dâu với D1) về việc D1 có nợ vợ chồng anh T số tiền 350.000.000 đồng. Sau đó, anh Q, chị H và D1 cùng đến nhà anh T nói chuyện về khoản nợ trên. Đến ngày 23/6/2021 D1 cùng với chồng đến nhà anh T viết 01 tờ giấy nhận tiền đặt cọc đất ghi số tiền 350.000.000 đồng, đề lùi ngày 21/6/2021 và D1 hẹn sẽ trả tiền cho vợ chồng anh T vào cuối tháng 12/2021. Tuy nhiên, ngày 29/6/2021 D1 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T bắt về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của D1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã thu giữ được con dấu và nhiều tài liệu có liên quan khác (BL: 53->70; 72->73; 78->80; 81->85; 87->89; 91->92; 94->98;.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Thị D1 thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xác minh về nhân thân của bị can xác định, ngày 12/12/2022, D1 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 19 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 03 năm tù về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Bản án số 192/2022/HSST. D1 hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam S Bộ C2 theo Quyết định thi hành án phạt tù số 32/2023/QĐ-CA ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa (BL 99->106).
Qúa trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trích xuất phạm nhân Nguyễn Thị D1 từ Trại giam S Bộ C2 đến tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N để phục vụ công tác điều tra từ ngày 28/3/2023 đến nay.
Xác minh về nguồn gốc các tờ phiếu thu và tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà D1 đã đưa cho vợ chồng anh T, chị N để làm tin, quá trình điều tra D1 khai các tờ phiếu thu là D1 lấy từ quyển phiếu thu in sẵn mẫu mua ở hiệu sách sau đó viết các thông tin như đã nêu trên vào tờ phiếu thu, rồi sử dụng con dấu giả hình chữ nhật có in dòng chữ "KẾ TOÁN LÊ THỊ C1 ĐÃ THU TIỀN" để làm giả phiếu thu tiền đất của UBND phường B, do kế toán của phường là chị Lê Thị Châu T1; còn con dấu giả và tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là D1 đặt mua trên mạng theo thông tin D1 cung
cấp. Những tờ phiếu thu và tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả này, D1 sau đó đã đem đốt bỏ khi thấy hành vi của mình bị vợ chồng anh T phát giác, còn con dấu giả thì đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T khám xét, thu giữ vào ngày 29/6/2022.
Đối với anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa (là chồng của Nguyễn Thị D1), đã có hành vi cùng với D1 viết 01 tờ giấy nhận tiền đặt cọc tiền đất 350.000.000 đồng cho vợ chồng anh T, tuy nhiên mục đích anh Q viết là để D1 có thêm thời gian trả nợ, mặt khác thời điểm viết giấy nhận tiền đặt cọc đất thì hành vi của D1 đã bị phát hiện và quá trình D1 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của vợ chồng anh T trước đó, anh Q không biết và cũng không được hưởng lợi ích gì, do đó anh Q không phạm tội.
Đối với chị Phạm Thị H, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa (là chị em dâu với D1), đã có hành vi cùng D1 và anh Q đến nhà anh T để hỏi về khoản nợ. Tuy nhiên, mục đích của chị H là đến hỏi vợ chồng anh T xem có đúng là D1 nợ vợ chồng anh T hay không và chị H cũng chỉ biết D1 có nợ vợ chồng anh T số tiền trên vì liên quan đến việc mua bán đất, việc D1 thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chị H không biết, cũng không được hưởng lợi gì, nên chị H không phạm tội.
Về vật chứng vụ án:
- - Quá trình điều tra Nguyễn Thị D1 khai 03 tờ phiếu thu và 01 tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả D1 đã đốt bỏ khi hành vi D1 bị vợ chồng anh T phát giác nên không thu giữ được.
- - Đối với con dấu có khắc dòng chữ “KẾ TOÁN LÊ THỊ C1 ĐÃ THU TIỀN” mà D1 sử dụng đóng lên 03 tờ phiếu thu tiền thì cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của D1 vào ngày 29/6/2022. Sau khi tiến hành giám định xác định con dấu này là giả và đã được xử lý trong bản án hình sự sơ thẩm số 192/2022/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định pháp luật.
Bản cáo trạng số 166/CT-VKS ngày 16/10/2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố Phạm Thị H1 về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của BLHS.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố bị cáo.
Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX;
- - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 56 và Điều 38 BLHS.
- - Xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản sán số 192/2022/HSST, ngày 12/12/2022 của TAND tỉnh Thanh Hóa và bản án số 104/2023/HS-ST, ngày 25/10/2023 của TAND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa buộc bị cáo phải chấp hành chung là 30 năm tù.
- + Về phần dân sự: Đã được giải quyết tại bản án số 104/2023/HS-ST, ngày 25/10/2023 của TAND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- - Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- + Bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí HSST
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Căn cứ vào lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định và lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thừa nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn có tiền để trang trải nợ nần nên trong khoảng thời gian từ tháng 6/2018 đến ngày 20/6/2020, Nguyễn Thị D1 đã có hành vi sử dụng một tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả do UBND Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa ký cấp và 03 tờ phiếu thu giả do UBND Phường B, TX. N, Thanh Hóa phát hành để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 350 triệu đồng của vợ chồng anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Nhan T2 tại TDP T, phường H, TX. N, Thanh Hóa. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Đối với đối tượng làm giả giấy Chứng nhận QSD đất, bị cáo khai đặt mua trên mạng, không biết địa chỉ nên không có căn cứ cho Cơ quan điều tra mở rộng điều tra.
Đối với anh Q chồng bị cáo và chị H là chị dâu bị cáo không biết về việc bị cáo sử dụng giấy tờ giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh T và chị N nên không cấu thành hành vi phạm tội.
Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã được xét xử tại bản án số 104/2023/HS-ST, ngày 25/10/2023 của TAND Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị D1 về tội: “Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức" theo điểm b khoản 3 Điều 341 BLHS là đúng pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức" theo điểm b khoản 3 Điều 341 BLHS.
[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất nghiêm trọng, thông qua hành vi sử dụng giấy tờ giả để bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh T và chị N, chiếm đoạt số tiền 350 triệu đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của vợ chồng anh T và chị N, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân trên địa bàn vì vậy cần phải buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi và hậu quả mà bản thân gây ra.
[4]. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện bản chất con người lười lao động nhưng lại muốn có cuộc sống an nhàn,hưởng thụ trên sức lao động của người khác nên bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Để chiếm đoạt số tiền 350 triệu của anh T và chị N, bị cáo đã sử dụng các tài liệu giải để tạo niềm tin cho anh chị, sau khi chiếm đoạt được số tiền trên đã tiêu xài vào mục đích cá nhân.
Sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu ngoài hành vi phạm tội lần này của bị cáo, bị cáo cũng đã thực hiện nhiều
hành vi phạm tội khác và đã bị TAND Tỉnh Thanh Hóa xét xử với mức hình phạt 22 năm tù về hai tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; bị TAND Thị xã Nghi Sơn xét xử với mức hình phạt 08 năm tù về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Vì hành vi phạm tội lần này của bị cáo được thực hiện trước các hành vi phạm tội mà bị cáo đã bị xét xử nên bị cáo không phải chịu tình tiết tái phạm theo quy định.
Xét tính chất, hành vi và nhân thân bị cáo thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét thấy mục đích phạm tội của bị cáo vì mục đích lợi nhuận tuy nhiên bị cáo đang phải chấp hành hai bản án với mức hình phạt 30 năm tù hơn nữa trong vụ án này bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của BLHS.
[5]. Về án phí: bị cáo phải nộp án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào: Điểm b Khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 56 và Điều 38 BLHS.
- - Tuyên bố: Nguyễn Thị D1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
- - Xử phạt: Nguyễn Thị D1 04 năm tù. Tổng hợp với hình phạt chung của hai bản án số 192/2022/HSST, ngày 12/12/2022 của TAND Tỉnh Thanh Hóa và bản án số 104/2023/HSST, ngày 25/10/2023 của TAND Thị xã Nghi Sơn, Thanh H2 là 30 năm tù buộc bị cáo phải chấp hành chung. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày 29/6/2021 (ngày tạm giữ, tạm giam của bị cáo tại bản án số 192/2022/HSST, ngày 12/12/2022 của TAND Tỉnh Thanh Hóa).
- - Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- + Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST
- - Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo vắng mặt người có quyền lợi liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Cúc |
Bản án số 155/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ về hình sự: sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 155/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn có tiền để trang trải nợ nần nên trong khoảng thời gian từ tháng 6/2018 đến ngày 20/6/2020, Nguyễn Thị D1 đã có hành vi sử dụng một tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả do UBND Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa ký cấp và 03 tờ phiếu thu giả do UBND Phường B, TX. N, Thanh Hóa phát hành để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 350 triệu đồng của vợ chồng anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Nhan T2 tại TDP T, phường H, TX. N, Thanh Hóa. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
