Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày 08 - 11 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Đê

Bà Nguyễn Thị Thọ

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim T – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn T1, sinh năm: 1985, tại Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N, sinh năm 1958, con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1961, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 7 chị em. Bị cáo có vợ đã li hôn; có 01 con, sinh năm 2008;

Tiền án: Bản án số 154/HSST ngày 09/10/2019, Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo T1 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 13/3/2021. (Bị cáo chưa thi hành hình phạt bổ sung).

Nhân thân: Bản án số 17/HSST ngày 27/02/2003 Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 17/4/2004.

Tiền sự: Không.

Bị cáo Lê Văn T1 bị bắt tạm giữ ngày 21/7/2024, chuyển tạm giam ngày 23/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Bị hại: Bà Võ Thị Thu N1 sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có mặt

- Bà Trương Thị Ánh T2, sinh năm 1987, địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/7/2024, Lê Văn T1 đến Công an phường P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Khoảng 02 giờ 50 phút ngày 25/6/2024, Lê Văn T1 vào nhà nghỉ Q, địa chỉ: I N, tổ G, khu phố G, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuê phòng. Lúc này, T1 phát hiện nhà nghỉ trên không khóa cửa, người trông coi thì ngủ say nên T1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T1 lén lút đột nhập vào bên trong nhà nghỉ lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno5 màu bạc của Bà Võ Thị Thu N1 tại quầy lễ tân và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 của Bà Trương Thị Ánh T2 tại khu vực bếp của nhà nghỉ rồi nhanh chóng bỏ đi. Sau đó, T1 mang điện thoại OPPO Reno5 đến bán cho tiệm cầm đồ “Tự”, địa chỉ C N, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 1.200.000 đồng còn điện thoại Samsung Galaxy A32 T1 bán cho cửa hàng điện thoại “Phương Thảo”, địa chỉ A N, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với giá 300.000 đồng. T1 đã tiêu xài hết số tiền trên vào việc cá nhân.

Bà Trương Thị Ánh T2 khai nhận ngoài bị trộm điện thoại hiệu Samsung Galaxy A32 thì Bà T2 còn bị mất số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng) để ở phía bên trong ốp lưng điện thoại trên. Tuy nhiên, Lê Văn T1 không thừa nhận có lấy số tiền này của Bà T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành đối chất giữa Lê Văn T1 và Bà Trương Thị Ánh T2 nhưng không có kết quả. Vì Bà T2 không cung cấp được tài liệu nào khác nên không có căn cứ xử lý T1 về số tiền 1.800.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 162/KL-HĐĐG ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố B, kết luận:

  • + 01 (một) điện thoại hiệu S A32, tình trạng đã qua sử dụng, mua mới năm 2022, có giá trị là 2.433.333 đồng (Hai triệu bốn trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng);
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, màu bạc, tình trạng đã qua sử dụng, mua mới năm 2021, có giá trị là 3.333.333 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng);
  • - Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng và tài sản gồm:
  • + 01 (một) áo sơ mi tay dài do Lê Văn T1 giao nộp (đây là áo mà T1 đã mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà nghỉ Q vào ngày 25/6/2024).
  • + 01 (một) đĩa DVD lưu trữ dữ liệu hình ảnh camera do bà Võ Thị Thu N1 cung cấp (chuyển theo hồ sơ vụ án).

Trách nhiệm dân sự:

  • - Bà Trương Thị Ánh T2 yêu cầu Lê Văn T1 bồi thường số tiền 3.000.000 đồng đối với chiếc điện thoại di động và 1.800.000 đồng.
  • - Bà Võ Thị Thu N1 yêu cầu Lê Văn T1 bồi thường số tiền 3.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 162/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Lê Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị mức án đối với Lê Văn T1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại về việc bị cáo đồng ý bồi thường cho bà T2 3.000.000 (ba triệu) đồng và bà N1 3.000.000 (ba triệu) đồng. Tại phiên toà bà Trương Thị Ánh T2 rút yêu cầu đối với yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm) đồng.
  • - Bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn T1: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp vật chứng thu giữ, các kết luận định giá tài sản trong tố tụng, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 02 giờ 50 phút ngày 25/6/2024, tại số I N, tổ G, khu phố G, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lê Văn T1 đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO Reno5 màu bạc của bà Võ Thị Thu N1 trị giá 3.333.333 đồng (Ba triệu ba trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 của chị Trương Thị Ánh T2 trị giá 2.433.333 đồng (Hai triệu bốn trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi bà đồng). Tổng giá trị tài sản Lê Văn T1 chiếm đoạt của hai bị hại là 5.766.666 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật của Lê Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Lê Văn T1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện đầu thú nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo từng bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà không lấy làm bài học kinh nghiệm mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xem xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian nhằm giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại về việc bị cáo đồng ý bồi thường cho bà Võ Thị Thu N1 số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng và bà Trương Thị Ánh T2 số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng. Ghi nhận sự nguyện của bà T2 về việc rút yêu cầu bị cáo T1 bồi thường số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm ngàn) đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo sơ mi của bị cáo T1, không còn giá trị sử dụng. 01 đĩa DVD ghi lại đoạn vi deo được trích xuất từ camera tại nhà bà Võ Thị Thu N1 ghi lại diễn biến hành vi của bị cáo lưu theo hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với nghĩa vụ phải bồi thường cho 02 bị hại là 600.000 (ba trăm ngàn) đồng.

[9] Ông Trương Văn T3, sinh năm 1972 là chủ tiệm cầm đồ “Tự” và ông Ngô Duy T4, sinh năm 1982 là chủ cửa hàng điện thoại di động “Phương Thảo” khai nhận không mua điện thoại của Lê Văn T1, không quen biết T1. Ngoài lời khai của Lê Văn T1, không có tài liệu, chứng cứ khác xác định sự việc ông T3, ông T4 đã mua điện thoại di động do Lê Văn T1 phạm tội mà có, Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với ông Trương Văn T3 và ông Ngô Duy T4 là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Văn T1 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 7 năm 2024.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn T1 bồi thường cho bà Trương Thị Ánh T2 số tiền: 3.000.000 (ba triệu) đồng và bà Võ Thị Thu N1 số tiền 3.000.000 đồng.

[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo sơ mi của bị cáo T1.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 12 ngày 17 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

01 đĩa DVD ghi lại đoạn vi deo được trích xuất từ camera tại nhà bà Võ Thị Thu N1 ghi lại diễn biến hành vi của bị cáo lưu theo hồ sơ vụ án.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn T1 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 600.000 (sáu trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PC 06 Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Bà Rịa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T "trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger