Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

Bản án số: 155/2024/HS-ST

Ngày: 04-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Chí Lin – Cán bộ hưu trí;

Bà Trần Thị Đổi – Cán bộ hưu trí;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Đông Đức - Kiểm sát viên;

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/2024/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: Lý Vĩnh T, sinh ngày 31/8/1979.
  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Chổ ở hiện nay: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn T1, sinh năm: 1954 (chết) và bà Hà Thị H, sinh năm: 1949 (sống); Vợ đã ly hôn; Con: 01 người sinh năm 2007; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Lý Vĩnh T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt.

2. Người chứng kiến:

  • 2.1. Ông Nguyễn Văn CủaHuỳnh Trung G, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • 2.2. Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 13/5/2024, Lý Vĩnh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại AIRBLADE FI, biển số 62P1-019.93 từ nhà tại ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đến đoạn đường tại chân cầu B, thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tìm mua chất ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), T hỏi mua 600.000 đồng chất mua túy dạng đá, người đàn ông đưa cho T 03 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất ma túy dạng đá. T lấy 03 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất ma túy vừa mua được cho vào túi quần đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô đến đoạn đường bê tông thuộc ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tuần tra, kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng tạm giữ: 03 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể dạng rắn, màu trắng nghi là chất ma túy; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại AIRBLADE FI, màu sơn đỏ-đen-bạc, số máy JF27E0557027, số khung RLHJF1808AY535741, biển số 62P1-019.93.

Tại Kết luận giám định số 325/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L, kết luận:

“Tinh thể màu trắng đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,4481 gam, loại: Methamphetamine.

Kèm theo kết luận giám định: Không có.

Bản ảnh giám định được lưu tại Phòng K, Công an tỉnh L.

H1 lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3001 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 325.”

Tại bản cáo trạng số 160/CT-VKSĐH ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lý Vĩnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Lý Vĩnh T gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lý Vĩnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt xử phạt bị cáo Lý Vĩnh T mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2024;

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: tiếp tục tạm giam bị cáo Lý Vĩnh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04 tháng 11 năm 2024) để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại AIRBLADE FI, màu sơn đỏ-đen-bạc, số máy JF27E0557027, số khung RLHJF1808AY535741, biển số 62P1-019.93 được bị cáo Lý Vĩnh T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước. (Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của Lý Vĩnh T số 62004173 do Công an huyện Đ cấp ngày 27/02/2024 được lưu giử cùng hồ sơ vụ án).

Đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3001 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 325 của Phòng K Công an tỉnh L là tang vật của vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Lý Vĩnh T không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không đề cập, xem xét.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lý Vĩnh T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

Đối với người đàn ông có hành vi bán chất ma túy cho Lý Vĩnh T. Do không xác định được nhân thân, lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của T nên không có căn cứ xử lý.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đánh giá về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:

[2.1]. Hành vi khách quan của bị cáo Lý Vĩnh T đã thực hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Lý Vĩnh T có hành vi tàng trữ 03 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất ma túy, có tổng khối lượng: 0,4481 gam, loại: Methamphetamine nhằm mục đích để dành sử dụng thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang.

[2.2]. Nhận định của Hội đồng xét xử:

Xét lời khai nhận của bị cáo Lý Vĩnh T trước tòa hoàn toàn phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã Đ lập vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 13/5/2024; phù hợp với Bản kết luận giám định số: 325/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L; phù hợp với các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Bị cáo Lý Vĩnh T là người nghiện ma túy, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Lý Vĩnh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,4481 gam, loại: Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo Lý Vĩnh T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lý Vĩnh T theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, gây mất trật tự xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được ma túy bị nghiêm cấm sử dụng và sẽ ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo và xã hội nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Lý Vĩnh T cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án tương xứng với hành vi, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Lý Vĩnh T:

Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Lý Vĩnh T tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,4481 gam nhằm mục đích sử dụng, thuộc tình tiết định khung theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên xét xử theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lý Vĩnh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia cảnh khó khăn, còn mẹ già cần sự chăm

sóc của bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo T còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo T trình bày có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lý Vĩnh T.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Lý Vĩnh T không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập, xem xét

[6]. Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy mẫu tang vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3001 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 325 của Phòng K Công an tỉnh L.

Tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda, loại AIRBLADE FI, màu sơn đỏ-đen-bạc, số máy JF27E0557027, số khung RLHJF1808AY535741, biển số 62P1-019.93 của bị cáo Lý Vĩnh T sử dụng làm phương tiện phạm tội. (Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của Lý Vĩnh T số 62004173 do Công an huyện Đ cấp ngày 27/02/2024 được lưu giử cùng hồ sơ vụ án).

[7]. Đối với người đàn ông có hành vi bán chất ma túy cho Lý Vĩnh T. Do không xác định được nhân thân, lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của T nên không có căn cứ xử lý.

[8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Vĩnh T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Vĩnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lý Vĩnh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lý Vĩnh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (04/11/2024) để đảm bảo thi hành án.

3. Về tang vật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: mẫu tang vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,3001 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 325 của Phòng K Công an tỉnh L.
  • - Tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda, loại AIRBLADE FI, màu sơn đỏ-đen-bạc, số máy JF27E0557027, số khung RLHJF1808AY535741, biển số 62P1-019.93 của bị cáo Lý Vĩnh T.
  • (Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 13-18/10/2024 ngày 18/10/2024; Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của Lý Vĩnh T số 62004173 ngày 27/02/2024 đang lưu giử cùng hồ sơ vụ án) )

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Lý Vĩnh T nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN KHẮC LINH DUY

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lý Vĩnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger