|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 125/2024/DS-PT
Ngày: 25/10/2024
V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Như
Các thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến
Ông Phạm Trường Du
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn – Thư ký TAND Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 68/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa (có mặt);
Bị đơn: Ông Đinh Văn Đ, sinh năm: 1954 Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa (có mặt);
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị G, sinh năm 1954; Anh Đinh Văn M, sinh năm 1978; Anh Đinh Văn Á, sinh năm 1985; Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chị Đinh Thị T1, sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà G, anh M, anh Ánh, chị T1 là anh Đinh Văn T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa ( có mặt).
Người làm chứng: Ông Đinh Văn H, sinh năm 1966; Ông Đinh Văn V, sinh năm 1955; Cùng địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Ông Đinh Văn S, sinh năm 1953, Ông Đinh Văn T2 - sinh năm 1962; Cùng địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Những người làm chứng vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn: Ông Đinh Văn Đ. Quyết định kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-DS ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đinh Văn T trình bày:
Gia đình anh được Nhà nước giao quyền sử dụng đất khoanh nuôi, bảo vệ tại thửa đất số 157, tờ bản đồ KS, L15 với diện tích đất là 51.000m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố anh là ông Đinh Văn T3. Từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình anh vẫn bảo vệ và canh tác. Đến năm 2001 ông Đinh Văn Đ có ra canh tách trên thửa đất 157 của gia đình anh. Gia đình anh có nhắc nhở nhưng do có mỗi quan hệ là anh em họ với nhau nên gia đình anh để cho ông Đ mượn làm. Năm 2010 gia đình anh tham gia dự án KW 4 được dự án đầu tư trồng cây keo với diện tích được tách ra từ thửa số 157. Hiện nay bố anh đã chết gia đình anh có yêu cầu ông Đ phải trả lại đất nhưng ông Đ không trả. Đất mà ông Đ cho rằng đất thuộc quyền sử dụng của ông Đ và ông Đ đã trồng keo, trồng mía và cây hoa màu trên đất là của gia đình anh.
Anh T đề nghị Tòa án buộc ông Đ phải có trách nhiệm thu hồi hoặc di rời cây cối trên phần đất tranh chấp để trả lại cho gia đình anh diện tích đất như sơ đồ kết quả đo đạc đã xác định hiện trạng diện tích đất ông Đ đang trồng cây trên đất của gia đình anh là 10.372,3m². Hiện nay bố anh đã chết nên đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đang tranh chấp trên thuộc quyền sử dụng của mẹ anh là bà Đinh Thị G và các con của ông T3 và bà G là Đinh Văn T, Đinh Văn Á, Đinh Văn M, Đinh Thị T1.
Trong các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Định Văn Đ1 trình bày:
Diện tích đất anh T đang tranh chấp ông đang sử dụng được nhà nước giao cho ông bằng Lâm B sử dụng từ ngày 21/3/1985 không có thời hạn. Lúc đó trong tờ Lâm bạ có chữ ký của ông Lưu Văn T4 và chữ ký của chủ tịch xã N. Từ đó đến nay không có ai tranh chấp. Theo sơ đồ trong Lâm Bạ là 16.000m² tại khe suối cụt khu Q. Diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì đã giao từ những năm 1985, khi đó các đoàn đo đạc nói là không cần cấp trích lục, khi nào Nhà nước thu hồi đất thì sẽ thu hồi. Quá trình canh tác giữa ông và gia đình ông T3 không có tranh chấp. Nay anh T khởi kiện yêu cầu ông T5 lại đất ông không đồng ý vì đây vẫn thuộc đất của gia đình ông được Nhà nước giao. Đất này đã được ông Lâm Văn T6 khi đó là Hạt trưởng hạt kiểm lâm ký xác nhận ngày 19/8/2008 có xác nhận của ông Đinh Ngọc M1 ngày 12/8/2008. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Đinh Thị G, anh Đinh Văn M, anh Đinh Văn Á, chị Đinh Thị T1 trình bày: Thống nhất nội dung khởi kiện của nguyên đơn anh Đinh Văn T.
Người làm chứng là ông Đinh Văn V trình bày: Ông có quen biết với ông Đinh Văn Đ và ông Đinh Văn T3 không có quan hệ anh, em, họ hàng gì. Trước đây gia đình ông có khai hoang, canh tác đất rừng tại thôn T, xã T mà nhân dân thường gọi vực hang cá. Gia đình ông khai hoang và canh tác từ lâu không nhớ rõ năm. Tuy nhiên đến năm 1995 vì điều kiện đi lại khó khăn nên gia đình ông không canh tác nữa. Theo ông biết thì sau một khoảng thời gian dài khi gia đình ông không canh tác nữa thì ông thấy có ông Đinh Văn Đ canh tác trên đất mà gia đình ông trước đây từng canh tác (là diện tích đất gia đình ông Đ và ông T3 đang tranh chấp). Còn việc thửa đất trước đây gia đình ông canh tác được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa hay cấp cho ai thì ông không được biết.
Ông Đinh Văn H trình bày: Ông là em rể của ông Đinh Văn T3 và quen biết với ông Đinh Văn Đ. Trước đây gia đình ông có khai hoang, canh tác đất rừng tại thôn T, xã T mà nhân dân thường gọi vực hang cá, khe nước rút. Gia đình ông khai hoang và canh tác từ lâu không nhớ rõ năm. Tuy nhiên đến năm 1996 vì điều kiện đi lại khó khăn nên gia đình ông không canh tác nữa và bàn giao lại cho thôn. Sau khi gia đình ông không canh tác nữa thì ông được biết Nhà nước giao đất lại cho gia đình ông N. Thửa đất thời điểm gia đình ông đang canh tác sát với thửa đất gia đình ông V đang canh tác. Theo ông biết thì sau một khoảng thời gian dài khi gia đình ông V không canh tác nữa thì có ông T3 và ông Đ trồng cây trên thửa đất trước đây gia đình ông V canh tác. Còn việc thửa đất trước đây gia đình ông V canh tác được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa hay cấp cho ai thì ông không được biết.
Ông Đinh Văn S và ông Đinh Văn T2 trình bày: Các ông có quen biết với ông Đinh Văn Đ và ông Đinh Văn T3 không có quan hệ anh, em, họ hàng gì. Trước đây gia đình ông có khai hoang, canh tác đất rừng tại thôn T, xã T nhưng chỉ canh tác một vụ sau đó không canh tác nữa. Ông không chứng kiến gì và cũng không được biết về việc giao đất theo lâm bạ năm 1985 nhà nước bàn giao đất cho ông Đ. Ông Đ trình bày các ông chứng kiến nhà nước giao đất cho ông Đ theo Lâm bạ năm 1985 là không đúng.
Theo kết quả đo đạc ngày 31/8/2023 thì diện tích đất đang tranh chấp có diện tích là 10.372,3 m² hiện nay ông Đinh Văn Đ đang trồng cây mía, hoa màu và cây keo trên đất.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 12, 97, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 163, 164; 166 của BLDS 2015; Điều 147, 157, Điều 165, 166 BLTTDS; Điều 26, Điểm a, khoản 2, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn T.
1.1. Công nhận diện tích đất 10.372,3m² thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp tại thôn T xã T thuộc quyền sử dụng đất của ông Đinh Văn T3. Buộc ông Đinh Văn Đ phải trả lại phần diện tích đất 10.372,3m² thuộc thửa đất số 157, từ bản đồ giao đất lâm nghiệp tại thôn T xã T (theo bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2007 thuộc các thửa đất số LỤC 4, LUC S, LUC6; BHK 10, BHK 12) cho bà Đinh Thị G, anh Đinh Văn T, anh Đinh Văn M, anh Đinh Văn Á và chị Đinh Thị T1. Phần diện tích đất 10.372,3m² được thể hiện trong sơ đồ kèm theo bản án được thể hiện từ các điểm M1 – MI5, có sơ đồ thể hiện diện tích đất các điểm giới hạn và tọa độ theo nền bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2007 kèm theo bản án.
1.2. Buộc ông Đinh Văn Đ phải di dời, thu hoạch các cây đã trồng trên phần diện tích đất mà ông Đ phải trả lại cho bà Đinh Thị G, anh Đinh Văn T, anh Đinh Văn M, anh Đinh Văn Á và chị Đinh Thị T1 gồm 2.847,8m² trồng cây mía, hoa màu và 7.524,5m² trồng cây keo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật
* Ngày 04/5/2024, bị đơn là ông Đinh Văn Đ kháng cáo với các nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm và công nhận diện tích 16.000m² đất theo lâm bạ số 21 ngày 21/3/1985 thuộc quyền sử dụng đất của ông Đinh Văn Đ.
* Ngày 03/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành ban hành kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-DS với các nội dung: Kháng nghị toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa ản nhân dân huyện T.
Tại phiên tòa nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát không rút kháng nghị. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Thư ký đều tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Tại cấp phúc thẩm những nội dung kháng nghị đã được khắc phục nên đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành đối với nội dung buộc bị đơn thu hoạch hoa màu hoặc di rời cây cối để trả lại đất cho nguyên đơn, cần buộc nguyên đơn phải thanh toán tiền giá trị tài sản trên đất cho bị đơn. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Kháng cáo của ông Đinh Văn Đ trong hạn luật định. VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung. Do đó, nội dung như kháng cáo của ông Đinh Văn Đ và kháng nghị của VKSND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa sẽ được xem xét trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo, các đương sự không có thỏa thuận được với nhau về các nội dung tranh chấp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
Qua xác minh, thu thập chứng cứ và các tài liệu trong hồ sơ thể hiện thì phần diện tích đất đang tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 157, tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp tại thôn T, xã T người sử dụng đất là ông Đinh Văn T3. Khi đo vẽ bản đồ địa chính, thì diện tích đất tranh chấp trên bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2007 thể hiện các thửa đất số LUC 4, LUC 5, LUC6, ΒΚΗ10, ΒΗΚ 12. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T đã có văn bản trả lời các thừa đất LỤC 4, LỤC 5, LUC6; BHK 10, BHK 12 và thửa đất số 84, thuộc tờ bản đồ KFW4 nằm trong diện tích đất 51.000m² thuộc thửa đất số 157 tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp đã được UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/12/1996 cho người sử dụng đất là ông Đinh Văn T3. Đến nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1977551 do UBND huyện T cấp ngày 28/12/1996 đứng tên ông Đinh Văn T3 thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ KSL25 còn giá trị sử dụng. Do đó có đủ căn cứ xác định diện tích đất anh T và ông Đ đang tranh chấp có diện tích 10.372,3m² nằm trong diện tích đất 51.000m² thuộc thửa đất số 157 tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp đã được UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/12/1996 cho người sử dụng đất là ông Đinh Văn T3.
Bị đơn là ông Đinh Văn Đ khẳng định diện tích đất đang tranh chấp được nhà nước cấp cho ông Đinh Văn Đ theo lâm bạ năm 1985 và đã được Nhà nước giao đất từ năm 1985 và ông đã canh tác ổn định trên đất đó từ năm 1985 đến nay không có tranh chấp. Tuy nhiên theo Lâm bạ cấp ngày 21/3/1985 cho ông Đinh Công Đ2 thì UBND huyện T chỉ xác nhận mượn quyền sử dụng đất, Lâm bạ cũng không thể hiện vị trí lô, khoảnh của thửa đất. Ngoài ra bị đơn còn xuất trình 02 tài liệu chứng cứ đều đề ngày 28/7/2008 là Biên bản thỏa thuận và Giấy xin phép trồng rừng theo quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ. Hai giấy này có xác nhận của UBND xã T và Hạt kiểm lâm huyện T. Nội dung của hai văn bản trên đều thể hiện là số diện tích đất 02 còn lại của gia đình ông Đ2 còn lại là 02 ha. Tuy nhiên tại giấy xin phép trồng rừng theo quyết định 147 của thủ tướng Chính phủ thể hiện Hộ gia đình ông Đ2 có nhận diện tích đất 02 là 7,1ha, số diện tích đất 02 gia đình tồn lại chưa phát là 02ha. Mặt khác theo tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được và bản thân ông Đ2 cũng thừa nhận tại thôn T, xã T, huyện T gia đình ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 7,1ha, diện tích đất đang tranh chấp không nằm trong diện tích đất 7,1ha gia đình ông Đ2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với nội dung ông Đ2 trình bày diện tích đất tranh chấp đã được Nhà nước giao đất từ năm 1985 và canh tác sử dụng từ đó đến nay. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của những người làm chứng đều khẳng định không chứng kiến việc nhà nước giao đất cho ông Đ2 và đất đang tranh chấp trên thì do các hộ dân ở thôn S, xã C canh tác đến năm 1995 thì không canh tác nữa, sau một thời gian dài ông Đ2 mới đến đó canh tác. Từ những căn cứ trên có đủ căn cứ xác định số Lâm bạ mà bị đơn xuất trình không xác lập quyền sử dụng đất đối với người được cấp sổ Lâm bạ. Không có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp là diện tích đất cho mượn theo Lâm bạ ngày 21/3/1985 và không có căn cứ xác định ông Đ2 đã canh tác ổn định trên đất từ năm 1985 đến nay.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị đơn không xuất trình tài liệu chứng cứ mới.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đinh Văn T3. Do ông Đinh Văn T3 đã chết đến nay vợ và các con ông T3 yêu cầu ông Đ2 trả lại diện tích đất là có căn cứ. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Buộc ông Định Văn Đ1 trả lại diện tích đất 10.372,3m² thuộc thửa đất số 157 tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp (Theo bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2007 thuộc các thửa đất số LỤC 4, LỤC 5, LUC6; BHK 10, BHK A) cho bà Đinh Thị G, anh Đinh Văn T, anh Đinh Văn Á, anh Đinh Văn M và chị Đinh Thị T1.
Trên diện tích đất đang tranh chấp có hoa màu và cây cối do ông Đ1 trồng gồm: 2.847,8m² trồng cây mía, hoa màu và 7.524,5m² trồng cây keo. Theo kết quả định giá ngày 08/11/2023 tài sản đang tồn tại trên diện tích đất tranh chấp có trị giá:
- + 2.847,8m² trồng cây mía x 9.200đ/m² = 26.200.000₫.
- + 7.524,5m² trồng cây keo x 42.000.000đ/ha = 31.600.000₫
Tổng cộng: 57.800.000₫.
Do hoa màu và cây cối trồng trên đất tranh chấp chưa đến thời kỳ thu hoạch mà cấp sơ thẩm buộc gia đình ông Đ1 phải di rời hoặc thu hoạch để trả lại đất cho gia đình ông T là chưa phù hợp, gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình ông Đ1 nên chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần sửa án theo hướng: Buộc gia đình anh T phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Đ1 số tiền hoa màu là: 57.800.000₫.
[3]. Xét những nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị Hủy bản án sơ thâm là có căn cứ do việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm: Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm những nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát đã được bổ sung đầy đủ nên xét thấy không cần phải hủy án sơ thẩm mà sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích như trên. [4]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết 7.000.000₫ (bảy triệu đồng) anh T là nguyên đơn đã nộp tạm ứng đủ và không yêu cầu ông Đ1 phải trả lại cho anh số tiền trên nên được ghi nhận.
[5] Về án phí: Do bản án bị cải sửa nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn Đ và chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.
Căn cứ vào các Điều 12, 97, 166, 170, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 163, 164; 166 của BLDS 2015; Điều 147, 157, Điều 165, 166 BLTTDS; Điều 26, Điểm a, khoản 2, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn T.
1.1. Công nhận diện tích đất 10.372,3m² thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp tại thôn T xã T thuộc quyền sử dụng đất của ông Đinh Văn T3. Buộc ông Đinh Văn Đ phải trả lại phần diện tích đất 10.372,3m² thuộc thửa đất số 157, từ bản đồ giao đất lầm nghiệp tại thôn thành T7 xã T (Theo bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2007 thuộc các thửa đất số LUC 4, LUC 5, LUC6; BHK 10, BHK A) cho bà Đinh Thị G, anh Đinh Văn T, anh Đinh Văn M, anh Đinh Văn Á và chị Đinh Thị T1. Phần diện tích đất 10.372,3m² được thể hiện trong sơ đồ kèm theo bản án được thể hiện từ các điểm M1 – MI5. Có sơ đồ thể hiện diện tích đất các điểm giới hạn và tọa độ theo nền bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2007 kèm theo bản án.
1.2. Buộc gia đình anh Đinh Văn T phải thanh toán tiền hoa màu trên đất cho gia đình ông Đinh Văn Đ số tiền là 57.800.000₫ (năm mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng).
1.3. Gia đình ông Đinh Văn Đ không phải thanh toán lại tiền chi phí thẩm định cho anh Đinh Văn T.
Về án phí phúc thẩm: Ông Đinh Văn Đ không phải chịu án phí dân sư phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại HN - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND huyện Thạch Thành; - Chi cục THADS huyện Thạch Thành; - Các đương sự; - Lưu HSVA |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tố Như |
Bản án số 125/2024/DS-PT ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 125/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
