|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 155/2024/KDTM-ST Ngày: 15/7/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huynh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Phương Dung;
- Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Tp . đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-KDTM ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9835/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C; Trụ sở: 51 Đường B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng V, sinh năm 1993; Địa chỉ liên hệ: 50 Đường B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 08/3/2024)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần K; Trụ sở: Tầng A, Khu văn phòng, Tòa nhà I, số D N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Bị đơn: Bà Diệp Ánh T, sinh năm 1986 – Là đại diện theo pháp luật; Địa chỉ: A Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Phiên tòa vắng mặt bà V (có yêu cầu) và bà T (có yêu cầu).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 15/3/2024, các Bản tự khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 10/7/2024, bà Lê Thị Hồng V là đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn - Công ty Cổ phần C, trình bày:
Nguyên đơn - Công ty Cổ phần C và Bị đơn - Công ty Cổ phần K có ký kết 02 Hợp đồng mua bán hàng hóa là các mặt hàng cáp điện, cụ thể: Hợp đồng mua bán hàng hóa số 361/2022/HĐMB/TP-BK ngày 07/04/2022 (Gọi tắt là “Hợp đồng số 361”) và Bảng Báo giá số 4362TB/2022/BGTP ngày 15/7/2022 (Gọi tắt là “Báo giá số 4362”). Quá trình thực hiện việc giao hàng và thanh toán tiền hàng của hai bên như sau:
(1) Đối với Hợp đồng số 361:
Nguyên đơn giao hàng 03 lần:
Lần 1: Nguyên đơn giao hàng cho Bị đơn vào ngày 07/06/2022 theo Biên bản giao hàng kèm chi tiết đóng gói số 8000129125 và xuất hóa đơn số 00003187 với tổng giá trị của đợt giao hàng này là 680.117.339 đồng (đã bao gồm VAT);
Lần 2: Nguyên đơn giao hàng cho Bị đơn vào ngày 16/06/2022 theo Biên bản giao hàng kèm chi tiết đóng gói số 8000129727 và xuất hóa đơn số 00003368 với tổng giá trị của đợt giao hàng này là 409.908.312 đồng (đã bao gồm VAT);
Lần 3: Nguyên đơn giao hàng cho Bị đơn vào ngày 24/06/2022 theo Biên bản giao hàng kèm chi tiết đóng gói số 8000129777 và xuất hóa đơn số 00003583 với tổng giá trị của đợt giao hàng này là 642.469.476 đồng (đã bao gồm VAT).
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Hợp Đồng, Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên Đơn 10% giá trị hợp đồng (chưa bao gồm thuế VAT) trong vòng 03 ngày kể từ ngày hai bên ký hợp đồng và thanh toán 90% giá trị của mỗi đợt nhận hàng và 100% thuế VAT trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận hàng thông qua chứng thư bảo lãnh thanh toán không điều kiện, không hủy ngang. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, do khó khăn về tài chính nên Bị đơn có đề nghị Nguyên đơn giao hàng mà không cần mở Chứng thư bảo lãnh. Bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn giá trị giao hàng lần 1 và lần 3. Đối với giá trị giao hàng lần 2, ngày đến hạn thanh toán là 15/8/2022, tuy nhiên Bị đơn chỉ thanh toán cho Nguyên đơn số tiền 37.264.392 đồng và còn nợ số tiền là 372.643.920 đồng. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng số 361 “Bị đơn phải chịu lãi suất cho vay kinh doanh của Ngân hàng N được công bố tại thời điểm thanh toán x 150%". Theo Quyết định số 1125/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 của Ngân hàng N công bố mức lãi suất cho vay là 4%/năm, do đó mức lãi suất cho vay quá hạn sẽ là 4%/năm x 150% = 6%/năm.
(2) Đối với Báo giá số 4362:
Ngày 15/7/2022, Bị đơn đặt hàng theo Bảng Báo giá số 4362TB/2022/BGTP của Nguyên đơn. Nguyên đơn đã giao hàng theo Biên bản giao hàng số 8000131180 BBGH 2022 ngày 19/7/2022 và xuất hóa đơn Giá trị gia tăng số 00004087 ngày 19/07/2022 cho Bị đơn với tổng giá trị đơn hàng là 366.787.300 đồng (đã bao gồm VAT).
Tại mục 2 của Bảng báo giá quy định Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán 100% giá trị đơn hàng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận hàng. Như vậy, ngày đến hạn thanh toán là 18/8/2022. Tuy nhiên, đến nay Bị đơn vẫn chưa thanh toán bất kỳ khoản tiền nào và còn nợ Nguyên đơn số tiền nợ là 366.787.300 đồng.
(3) Quá trình xác nhận công nợ giữa hai bên:
Ngày 21/7/2023, Bị đơn có ban hành Văn bản số 1707/VB/BK_TP xác nhận tính đến ngày 24/5/2023 Bị đơn còn nợ Nguyên đơn công nợ mua hàng 739.431.220 đồng và phạt chậm thanh toán 33.644.121 đồng; đồng thời Bị đơn đưa ra phương án thanh toán trong 05 đợt đến ngày 22/9/2023 là sẽ trả hết nợ. Thực tế đến thời điểm hiện nay, Bị đơn vẫn chưa thanh toán bất kỳ khoản tiền nào như đã cam kết.
Nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại, email và gửi công văn yêu cầu Bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với dư nợ của Hợp đồng số 361 và Bảng báo giá số 4362 nhưng Bị đơn không có thiện chí chi trả.
Do đó, Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Bị đơn thanh toán ngay một lần sau khi Tòa án ban hành bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật, các khoản tiền sau:
- Đối với khoản nợ của Hợp đồng mua bán hàng hóa số 361/2022/HĐMB/TP-BK ngày 07/4/2022:
- - Nợ gốc: 372.643.920 đồng;
- - Nợ lãi chậm trả theo mức lãi suất 6%/năm tính từ ngày 16/8/2022 đến ngày 15/7/2024 (tương đương 699 ngày), số tiền lãi là: 42.818.318 đồng.
- Đối với khoản nợ của Bảng báo giá số 4362TB/2022/BGTP ngày 15/7/2022, số tiền nợ gốc là 366.787.300 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu Bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả của khoản nợ gốc này.
Tổng số tiền Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán là: 782.249.000 đồng.
Tại bản khai, đơn xin vắng mặt đề ngày 26/4/2024 và ngày 13/6/2024, bà Diệp Ánh T là đại diện theo pháp luật của Bị đơn - Công ty Cổ phần K, trình bày:
Bị đơn xác nhận đã được Tòa án thông báo đầy đủ về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ đính kèm. Bị đơn xác nhận còn nợ Nguyên đơn tổng số tiền 773.075.341 đồng (Bao gồm nợ gốc là 739.431.220 đồng; phạt chậm thanh toán: 33.644.121 đồng) như tại Công văn số 1707/VB/BK-TP ngày 21/7/2023. Tuy nhiên, hiện nay do điều kiện kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên Bị đơn chưa thể thanh toán ngay toàn bộ số tiền theo yêu cầu của Nguyên đơn. Bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự thủ tục tố tụng; những người tham gia tố tụng đã được Toà án tống đạt các thông báo và triệu tập thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người đại diện theo pháp luật của Bị đơn đã được Toà án triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ nhưng có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở chấp nhận toán bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc Bị đơn thanh toán tiền nợ gốc còn thiếu và lãi suất chậm thanh toán theo yêu cầu của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
[2] Nguyên đơn và Bị đơn ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa. Quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền hàng nên Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn trả tiền nợ còn thiếu theo Hóa đơn GTGT và Biên bản xác nhận công nợ mà các bên đã ký xác nhận là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều vì mục đích lợi nhuận, Bị đơn có địa chỉ trụ sở chính tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh hiện chưa có thông tin giải thể/phá sản, tại Hợp đồng Nguyên đơn và Bị đơn không có thỏa thuận riêng về việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng nên căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:
[4] Xét quá trình chuẩn bị xét xử, Toà án đã thực hiện việc tống đạt các thông báo, văn bản tố tụng của Toà án, triệu tập Bị đơn và người đại diện theo pháp luật của Bị đơn tham gia tố tụng, tham gia phiên toà để giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nhưng Bị đơn có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên họp hòa giải và phiên tòa. Bị đơn đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; yêu cầu cung cấp nội dung phản tố (nếu có), tuy nhiên đến nay Bị đơn vẫn chưa có yêu cầu phản tố nào để giải quyết trong cùng vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên toà xét xử vắng mặt Bị đơn theo quy định tại khoản 1; điểm b, điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[5] Về yêu cầu khởi kiện đòi Bị đơn thanh toán nợ gốc:
[6] Xét, Nguyên đơn Công ty Cổ phần C ký với Bị đơn Công ty Cổ phần K Hợp đồng mua bán hàng hóa số 361/2022/HĐMB/TP-BK ngày 07/04/2022 và Bảng Báo giá số 4362TB/2022/BGTP ngày 15/7/2022, theo đó Nguyên đơn nhận cung cấp hàng hóa theo yêu cầu của Bị đơn và Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo Hóa đơn do Nguyên đơn xuất. Các hợp đồng, giao dịch dân sự này phù hợp với quy định của pháp luật, không vi phạm điều cấm nên được công nhận giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
[7] Quá trình thực hiện Hợp đồng, Bị đơn không có bất kỳ văn bản nào thông báo về lỗi hàng hóa do đó có cơ sở để xác định Nguyên đơn đã cung cấp đúng và đủ hàng hóa; quy cách, tiêu chuẩn, xuất xứ hàng hóa theo yêu cầu của Bị đơn.
[8] Xét Hóa đơn GTGT số 00003368 ngày 16/6/2022; Hóa đơn GTGT số 00004087 ngày 19/7/2022; Biên bản giao hàng kèm chi tiết đóng gói số 8000129727 ngày 16/6/2022; Biên bản bàn giao hàng kèm chi tiết đóng gói số 8000131180 BBGH ngày 19/7/2022; Công văn số 1707/VB/BK_TP ngày 21/7/2023 do Nguyên đơn giao nộp; và sự xác nhận của người đại diện hợp pháp của Bị đơn tại Tòa, xác định tính đến ngày 15/7/2024 Bị đơn còn nợ Nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc là 739.431.220 đồng. Đến nay, Bị đơn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền trên nên Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc 739.431.220 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[9] Về yêu cầu khởi kiện đòi Bị đơn thanh toán nợ lãi chậm trả của Hợp đồng số 361/2022/HĐMB/TP-BK ngày 07/04/2022 theo mức lãi suất 6%/năm tính từ ngày 16/8/2022 đến ngày 15/7/2024 (tương đương 699 ngày), số tiền lãi là: 42.818.318 đồng.
[10] Xét, Nguyên đơn đã thực hiện cung cấp hàng hóa đúng thỏa thuận tại Hợp đồng số 361/2022/HĐMB/TP-BK ngày 07/04/2022. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Hợp Đồng, Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên Đơn 10% giá trị hợp đồng (chưa bao gồm thuế VAT) trong vòng 03 ngày kể từ ngày hai bên ký hợp đồng và thanh toán 90% giá trị của mỗi đợt nhận hàng và 100% thuế VAT trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận hàng. Nguyên đơn giao hàng cho Bị đơn vào ngày 16/06/2022 theo Biên bản giao hàng kèm chi tiết đóng gói số 8000129727 và xuất hóa đơn số 00003368 với tổng giá trị của đợt giao hàng này là 409.908.312 đồng (đã bao gồm VAT). Như vậy, ngày đến hạn thanh toán là ngày 15/8/2022; Tuy nhiên, Bị đơn chỉ thanh toán số tiền 37.264.392 đồng và còn nợ số tiền 372.643.920 đồng là đã quá thời hạn thanh toán do đó Bị đơn phải chịu tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 16/8/2022.
[11] Tại điểm e khoản 1 Điều 9 Tại Hợp đồng số 361 quy định: “Tiền lãi suất nợ quá hạn đối với khoản tiền chậm thanh toán: Lãi suất được tính theo lãi suất cho vay kinh doanh của Ngân hàng N được công bố tại thời điểm thanh toán nhân với 150%".
[12] Nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 6%/năm là không vượt quá mức 15.05%/năm lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm hiện nay của 03 Ngân hàng (Bao gồm: Ngân hàng TMCP N1 với LSQH là 15%/năm; Ngân hàng TMCP C1 với LSQH là 18.75%/năm và Ngân hàng N2 với LSQH là 11.4%/năm), được quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi của Nguyên đơn trên số tiền nợ gốc 372.643.920 đồng theo mức lãi suất 6%/năm, số tiền lãi chậm trả tính đến ngày 15/7/2024 là: 42.818.318 đồng.
[13] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phù hợp với những phân tích nêu trên nên được chấp nhận.
[14] Do đó, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc Bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc và lãi, tổng cộng là 782.249.000 đồng.
[15] Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
[16] Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 35.289.960 đồng (Ba mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm sáu mươi đồng).
[16] Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí theo quy định pháp luật.
[17] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 50, 51, 55, 300, 301, 306 và Điều 319 Luật Thương mại; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty Cổ phần C:
Buộc Công ty Cổ phần K phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần C tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/7/2024 là 782.249.000 đồng, bao gồm:
- - Nợ gốc là: 739.431.220 đồng;
- - Lãi chậm trả tính từ ngày 16/8/2022 đến ngày 15/7/2024 là 42.818.318 đồng;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
Công ty Cổ phần K phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 35.289.960 đồng (Ba mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, chín trăm sáu mươi đồng).
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 41.714.290 đồng (Bốn mươi mốt triệu, bảy trăm mười bốn nghìn, hai trăm chín mươi đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0045347 ngày 06/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Tp ..
3. Về quyền kháng cáo:
Công ty Cổ phần C và Công ty Cổ phần K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Quang Huynh |
Bản án số 155/2024/KDTM-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 155/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán công nợ còn thiếu theo HĐMB hàng hóa
