Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

Bản án số: 155/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 6 - 2024

V/v “tranh chấp ly hôn, chia tài sản

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Chí Lin;
  2. Bà Trần Thị Đổi.

– Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Phụng - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 198/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 09/TB-TA ngày 31/5/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm 1988 (xin vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 (xin vắng mặt);
  • Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 01/3/2022 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ. Vợ chồng không thể hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Hạ V, sinh ngày 03/6/2023. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Khi cưới, bên gia đình ông Đ có cho ông bà 07 chỉ vàng, loại vàng 9999. Quá trình chung sống, ông bà đã bán 03 chỉ vàng để ông Đ làm ăn, 04 chỉ vàng còn lại được bán sau khi bà sinh con được 03, 04 tháng. Do đó, tài sản chung vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Thị Mỹ D về thời gian chung sống; điều kiện kết hôn; con chung và nguyên nhân mâu thuẫn. Bà D nộp đơn ly hôn, ông không đồng ý.

Về con chung: Con chung tên Nguyễn Hạ V, sinh ngày 03/6/2023. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ông bà ly hôn, ông đồng ý để bà D tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông Đ có yêu cầu phản tố về chia tài sản chung là ½ giá trị 07 chỉ vàng 24K, tạm tính số tiền 25.000.000 đồng.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị Mỹ D nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ có địa chỉ cư trú tại xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông Đ có yêu cầu phản tố về việc chia giá trị 07 chỉ vàng 24K nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 01/3/2022 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ phần trình bày của bà D về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà D vẫn giữ yêu cầu ly hôn, ông Đ không đồng ý do bà D không kê khai được đầy đủ việc mua bán vàng cưới và ông Đ đã có yêu cầu phản tố về việc chia đôi giá trị số vàng này. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Mỹ D.

Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Hạ V, sinh ngày 03/6/2023. Ông Đ và bà D cùng thống nhất giao con chung cho bà D nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Nguyễn Hạ V cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.

Về tài sản chung: Bà D trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đ có yêu cầu phản tố chia tài sản chung là ½ giá trị 07 chỉ vàng 24k tương đương 25.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, lần lượt các ngày 10/5/2024 và ngày 27/5/2024, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Đ lên Tòa án làm việc đối với yêu cầu phản tố của ông Đ nhưng ông Đồng Đ1 vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2 Điều 217 BLTTDS, Tòa án đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố chia tài sản chung của ông Đ. Ông Đ được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS.

Về tài sản chung: Các đương sự đều trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Sung vào công quỹ nhà nước tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp là 625.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 217, 218, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh Thị Mỹ D đối với ông Nguyễn Văn Đ.
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
    • Về con chung: Bà Huỳnh Thị Mỹ D được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hạ V, sinh ngày 03/6/2023.
    • Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.
    • Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
    • Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  2. Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Đ về việc chia tài sản chung là ½ giá trị 07 chỉ vàng 24K, tương đương số tiền 25.000.000 đồng.

    Ông Nguyễn Văn Đ có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định tại Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006335 ngày 27/2/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Huỳnh Thị Mỹ D đã nộp xong.

    Sung vào công quỹ nhà nước tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn Đ đã nộp là 625.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001033 ngày 25/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Bắc (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Tho

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 155/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Mỹ Dung tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn Nguyễn Văn Đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger