Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 155 /2024/HS -ST

Ngày: 22/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chuyển;

Ông Nguyễn Việt Chiến;

-Thư ký phiên toà: Ông Trần Hưng - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Tuấn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST - HS ngày 15/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST – HS ngày 26/04/2024 đối với các bị cáo:

Ma Thị Huyền T, Sinh năm: 2001; HKTT: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Ma Văn M; Con bà: Lê Thị Giang L; Chồng con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Nguyễn Cẩm N, Sinh năm: 2001; HKTT: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn N1; Con bà: Trần Thị P; Chồng con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị P, sinh năm 1975; HKTT: Thôn Đ, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc ( Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 27/9/2023, Phòng An ninh chính trị nội bộ - Công an thành phố H được giao nhiệm vụ giám sát kỳ thi đánh giá năng lực cấp chứng chỉ tiếng Anh tại Trường Đại học H1. Quá trình giám sát phát hiện trường hợp Nguyễn Cẩm N sử dụng thẻ Căn cước công dân nghi là giả để thi hộ cho Đặng Bảo N2 (Sinh năm: 2001; HKTT: phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang) nên phòng An ninh chính trị nội bộ - Công an thành phố H đã chuyển vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N để giải quyết.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Cẩm N:

  • 01 căn cước công dân số [...] cấp ngày 21/6/2021 mang tên Đặng Bảo N2;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen, gắn sim số: 0332.900.479;

Tại Bản kết luận giám định số 7461/KL - KTHS ngày 20/10/2023 của V - Bộ C1 kết luận: Căn cước công dân số [...] mang tên Đặng Bảo N2 ngày 21/6/2021 cần giám định (ký hiệu A) là Căn cước công dân giả.

Quá trình điều tra xác định:

Ma Thị Huyền T và Đặng Bảo N2 là bạn bè trước đây cùng học lớp Luật 2, khóa 8 Học viện T2. Do cần chứng chỉ chứng chỉ Tiếng Anh B1 châu Âu nên N2 đã nhờ T thi hộ. T đồng ý và thỏa thuận với N2 chi phí thi hộ là 13.000.000 đồng, N2 phải thanh toán trước 8.000.000 đồng, khi nào có chứng chỉ sẽ thanh toán nốt 5.000.000 đồng. Ngày 23/8/2023, N2 sử dụng tài khoản số 0963612727 mở tại ngân hàng M1 của mình chuyển 8.000.000 đồng đến tài khoản số [...], mở tại ngân hàng M1 mang tên Ma Thị Huyền T. Sau khi nhận được tiền, T sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển 8.100.000 đồng đến tài khoản số 00920039999 mở tại ngân hàng M1 mang tên Ma Thị Huyền C. Sau đó, T sử dụng tài khoản Facebook “M2” và tài khoản I “Huyennhii” của mình nhắn tin trao đổi với Nguyễn Cẩm N nhờ thi hộ chứng chỉ tiếng Anh B1. Cả hai thỏa thuận N sẽ sử dụng căn cước công dân giả (Căn cước công dân dán ảnh của N nhưng thông tin trên căn cước là của Đặng Bảo N2) để đi thi hộ chứng chỉ tiếng Anh B với chi phí là 2.000.000 đồng, thi xong sẽ thanh toán trước 1.000.000 đồng, khi nào có chứng chỉ sẽ thanh toán nốt 1.000.000 đồng. Sau đó, T sử dụng tài khoản zalo “Huyền T” của mình kết bạn, nhắn tin với tài khoản “T1” đặt làm 01 căn cước công dân giả với giá 2.500.000 đồng. “T1” yêu cầu T chụp ảnh 02 mặt căn cước công dân của người được thi hộ và 02 ảnh chân dung của người thi hộ cho “T1”. Theo yêu cầu, N đã gửi 02 ảnh chân dung của mình và N2 đã gửi ảnh 02 mặt căn cước công dân của mình cho T. Sau đó, T gửi lại cho “T1”. Ngày 04/9/2023, T sử dụng tài khoản số 00920039999 mở tại ngân hàng M1 mang tên Ma Thị Huyền C chuyển lần lượt 200.000 đồng và 1.300.000 đồng đến tài khoản ngân hàng số 6002205316473 mở ngân hàng A2 mang tên Le Van A; ngày 20/9/2023, T sử dụng tài khoản của C chuyển lần lượt 500.000 đồng và 100.000 đồng đến tài khoản ngân hàng số 1014024166 mở tại ngân hàng V1 mang tên Pham Thanh N3 để thanh toán tiền làm căn cước công dân giả cho “T1”. Ngày 24/9/2023, N về nhà trọ tại địa chỉ: Số E, ngách A đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội nhận được 01 đơn hàng số EF793554247VN (bên ngoài người gửi là H, số điện thoại: 0589.703.xxx, người nhận: C) bên trong có 01 căn cước công dân số [...] mang tên Đặng Bảo N2, ảnh là Nguyễn Cẩm N được shipper gửi ở sân nhà. Sau đó, T đăng ký thi kỳ thi cấp chứng chỉ tiếng Anh tại trường Đại học H1 vào ngày 27/9/2023 và điền thông tin của N2, tải ảnh chân dung của N, ảnh chụp 02 mặt thẻ căn cước công dân giả để đăng ký thi và báo cho N lịch thi. Ngày 27/9/2023, N đã sử dụng căn cước công dân giả trên đến trường Đại học H1 để thi hộ chứng chỉ tiếng anh cho Đặng Bảo N2 thì bị phát hiện.

Vật chứng thu giữ của Ma Thị Huyền T:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus.

Tại cơ quan điều tra Ma Thị Huyền T và Nguyễn Cẩm N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. N khai đây là lần đầu tiên sử dụng căn cước công dân giả để thi hộ, bản thân N chưa nhận được tiền từ việc thi hộ cho N2. N khai Nguyễn Thị Hồng N4 (Sinh năm: 2000; HKTT: Cổ Lễ, T, Nam Định) là người bảo Cẩm Nhung kiểm tra tin nhắn vì có người cần thi hộ tiếng Anh.

Đối với tài khoản zalo “T1” là người làm căn cước công dân giả (như T khai). Cơ quan điều tra đã gửi Công văn đến Công ty V2 để xác minh thông tin tài khoản zalo trên. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa nhận được kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến tài khoản zalo “T1” để điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với tài khoản số 6002205316473 mở ngân hàng A2 mang tên Le Van A và tài khoản số 1014024166 mở tại ngân hàng V1 mang tên Pham Thanh N3 là tài khoản nhận tiền làm căn cước công dân giả. Quá trình điều tra xác định:

  • Chủ tài khoản số 6002205316473 là Lê Văn A1 (Sinh năm: 1994; HKTT: Hòa Hiệp, X, Bà Rịa - Vũng Tàu). Tại cơ quan điều tra, Văn A1 khai: Văn Anh đăng K và sử dụng tài khoản ngân hàng trên từ năm 2019. Năm 2023, Văn A1 quen 01 nam thanh niên tên T1, sử dụng số điện thoại: 0589.703.xxx. T1 nhờ Văn A1 nhận hộ tiền qua tài khoản. Ngày 04/9/2023, Văn A1 nhận hộ T1 02 lần chuyển số tiền: 200.000 đồng và 1.300.000 đồng. T1 nói đang làm dịch vụ liên quan đến căn cước công dân, không vi phạm pháp luật nên Văn A1 đã nhận và đưa tiền mặt cho T1, không được hưởng lợi gì. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
  • Chủ tài khoản số 1014024166 là Phạm Thanh N5 (Sinh năm: 1996; HKTT: Số B K, phường A, quận E, TP Hồ Chí Minh). Xác minh tại địa chỉ trên: Không có người tên Phạm Thanh N5 đăng ký thường trú, tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ trên.

Đối với tài khoản số 00920039999 mở tại ngân hàng M1 mang tên Ma Thị Huyền C là tài khoản T chuyển tiền cho “T1” thanh toán tiền làm Căn cước công dân giả. Quá trình điều tra xác định chủ tài khoản trên là Ma Thị Huyền C (Sinh năm: 2003; HKTT: Hợp Hòa, S, Tuyên Quang). Tại cơ quan điều tra, C khai là người đứng tên chủ tài khoản trên nhưng thực tế tài khoản do chị gái là Ma Thị Huyền T sử dụng. C không biết việc T sử dụng tài khoản trên để thanh toán tiền làm căn cước công dân giả nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen, gắn sim số: 0332.900.479. Quá trình điều tra, xác định chiếc điện thoại trên là chị Trần Thị P (Sinh năm: 1975; Nơi thường trú: Đ, V, Vĩnh Phúc). Chị P mua chiếc điện thoại trên vào năm 2023, sau đó cho con gái là Nguyễn Cẩm N mượn để sử dụng.

Đối với số điện thoại 0589.703.xxx của “T1”. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao trên là Nguyễn Văn N6 (Sinh năm: 1970; HKTT: P, T, Tây Ninh). Tại cơ quan điều tra, anh N6 khai không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, anh N6 cũng không gửi bưu phẩm nào từ huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến thành phố Hà Nội.

Đối với Đặng Bảo N2, bản thân N2 không biết quy trình, thủ tục làm chứng chỉ tiếng Anh B1 châu Âu như thế nào và cũng không biết T sẽ làm căn cước công dân giả để thi hộ chứng chỉ tiếng Anh B châu Âu cho N2 nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Hồng N4, N4 khai: Tháng 9/2023, Hồng N4 ở cùng phòng trọ với C tại số E, ngách A đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội, Hồng N4 biết việc Cẩm N hay bình luận vào các bài viết nhận thi hộ tiếng Anh và Cẩm N cũng hay tâm sự về việc muốn thi hộ tiếng Anh để kiếm thêm thu nhập nên khi Cẩm N nhận được tin nhắn từ “M2” thì Hồng N4 trêu là “Có người nhờ thi hộ”, Hồng N4 không liên quan đến việc làm căn cước công dân giả để thi hộ giữa Cẩm N và T. Đồng thời, Cẩm N cũng khai nhận như trên nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Lời khai nhận tội của Ma Thị Huyền T và Nguyễn Cẩm N phù hợp với nhau và phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 89/CT-VKSNTL ngày 10/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Ma Thị Huyền T và bị cáo Nguyễn Cẩm N về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Ma Thị Huyền T và Nguyễn Cẩm N khai nhận hành vi của mình, thành khẩn khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị:
  • Xử phạt Ma Thị Huyền T 09-12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18- 24 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Xử phạt Nguyễn Cẩm N 08-11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16- 22 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 8 plus.
  • Trả lại cho chị Trần Thị P: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Apple 12 promax màu đen đã qua sử dụng.
  • Truy thu của bị cáo Ma Thị Huyền T số tiền hưởng lợi 4.100.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng tháng 8/2023, Ma Thị Huyền T và Nguyễn Cẩm N đã bàn bạc, thống nhất N sẽ sử dụng căn cước công dân giả của Đặng Bảo N2 để đi thi hộ chứng chỉ tiếng Anh B cho N2 với giá 2.000.0000 đồng. N đã cung cấp 02 ảnh chân dung của mình cho T, sau đó T đã liên lạc với tài khoản zalo “T1” đặt làm 01 căn cước công dân giả với giá 2.100.000 đồng, đồng thời Trâm gửi ảnh chụp 02 mặt thẻ căn cước công dân của N2, ảnh chân dung của N cho đối tượng trên để làm căn cước công dân giả. Sau đó, N đã sử dụng căn cước công dân giả thi hộ chứng chỉ tiếng Anh cho N2 vào ngày 27/9/2023 tại trường đại học H1, phường T, quận N, Hà Nội thì bị Phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an thành phố H phát hiện.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Ma Thị Huyền T, Nguyễn Cẩm N đã phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy:

Hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan Nhà nước; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, cá nhân là những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, đối với các bị cáo cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn cho các bị cáo hình phạt bổ sung bằng tiền.

Xét các bị cáo có nơi ở ổn định nên cần cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội học tập và lao động trở thành người công dân tốt.

[3] Vật chứng vụ án: - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 8 plus do bị cáo T đã sử dụng liên lạc trong quá trình phạm tội.

- Trả lại cho chị Trần Thị P: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Apple 12 promax màu đen đã qua sử dụng do bị cáo N được mẹ cho mượn dùng để liên lạc.

- Truy thu của bị cáo Ma Thị Huyền T số tiền hưởng lợi 4.100.000 đồng.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, chị P có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Ma Thị Huyền T và Nguyễn Cẩm N phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
    • Xử phạt bị cáo Ma Thị Huyền T 09 ( Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Cẩm N 08 ( tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 ( mười sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao bị cáo Ma Thị Huyền T cho Ủy ban nhân dân dân xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Giao bị cáo Nguyễn Cẩm N cho Ủy ban nhân dân dân xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
    • Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
      • Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 8 plus; Số máy: NQ982LL/A; Số seri: F2LVV090JCM1.
      • Trả lại cho bà Trần Thị P: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Apple 12 promax màu đen đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 191 ngày 25 tháng 4 năm 2024)
      • Truy thu của bị cáo Ma Thị Huyền T số tiền 4.100.000 đồng
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc các bị cáo Ma Thị Huyền T, Nguyễn Cẩm N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Ma Thị Huyền T, Nguyễn Cẩm N; Bà P có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm ;
  • - CCTHADS Q. Nam Từ Liêm ;
  • - Bị cáo; BNCQLNVLQ
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 155/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 155/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Ma Thị Huyền T và Nguyễn Cẩm N phạm tội: "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, ốt chức"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger